Bản đồ hành trình tâm linh | Chương VIII: Từ tuệ thứ năm đến tuệ thứ mười – Từ Tuệ Diệt đến Tuệ Thấy Nguy hiểm, Tuệ Kinh sợ, Tuệ Yếm ly, Tuệ Muốn Giải thoát và Tuệ Giản trạch

Sayadaw U. JotikaNguyên tác: Sayadaw U. Jotika

Dịch giả: Sư Tâm Pháp

Nguyên gốc được đăng tải tại đây.

Trước khi nói về tuệ giác tiếp theo, tôi muốn trút nhẹ tâm tư khỏi những suy nghĩ trong hai ngày vừa qua. Tối ngày 27 tháng 3 tôi được nghe một tin kinh khủng, từ lúc đó tôi luôn cảm thấy rất buồn cho những người liên quan đến sự kiện trên. Tại Nam California, 39 người đã tự tử. Tại sao? Tôi không biết chi tiết về việc này, nhưng dù tự tử vì bất cứ lý do gì, đó cũng không phải là một điều tốt đẹp. Sự kiện này cho thấy những người này, họ không chỉ mong muốn mỗi tiền bạc và vui thú trong đời. Họ muốn được hướng dẫn và dạy bảo. Họ muốn có người lãnh đạo tốt. Song họ không có được một thủ lãnh tốt, do đó họ đã đi sai đường. Cái chết không phải là một giải pháp tốt đẹp. Không có lý do nào là hợp lý để chết cả.

Tôi sẽ kể cho các bạn nghe một số câu chuyện về Đức Phật và các Thánh đệ tử Alahán của Ngài. Khi các đại đệ tử của Đức Phật đắc quả Alahán, họ sống đến hết tuổi thọ của mình, sống thuận với quy luật tự nhiên của cơ thể, họ biết trước khi nào mình chết, nghĩa là lúc nhập vô dư Niết bàn (parinibbāna). Cái chết của một vị Alahán không giống như cái chết của đại đa số mọi người chúng ta. Đối với phần lớn mọi người, khi họ chết, một phần tính chất nào đó vẫn tiếp tục tái sanh (tiến trình vẫn tiếp diễn). Song khi một vị Alahán tịch diệt, đó là điểm chấm dứt của tiến trình ấy. Do đó, các vị đại đệ tử thường đến bạch với Đức Phật: “Bạch Thế Tôn, con sẽ nhập vô dư Niết Bàn vào giờ ấy, ngày ấy”. Đức Phật không bao giờ nói hãy làm hay đừng làm điều đó; bởi vì bảo đừng làm nghĩa là còn dính mắc, chấp thủ vào sanh hữu, vào kiếp sống – đó là điều Đức Phật không bao giờ khuyến khích. Song nói: “Đó là một việc tốt nên làm” thì lại giống như ca ngợi cái chết. Bạn có biết trong những trường hợp như vậy, Đức Phật nói thế nào không? “Con biết thời điểm Vô dư Niết Bàn của mình!”. Điều quan trọng là hiểu được lý do tại sao Đức Phật nói như thế. Ngài không bao giờ nói: “Con hãy nhập Vô dư Niết Bàn” hay “Đừng làm như thế”. Đức Phật không bao giờ ca ngợi cách nào cả.

Chết không phải là một giải pháp.

Chúng ta không thể giải quyết được bất cứ việc gì bằng cái chết cả.

Nếu quả thật chết là một giải pháp tốt đẹp thì có lẽ điều đó lại rất hay. Khi còn trẻ, tôi nghĩ rằng nếu không còn cuộc sống nữa thì sẽ rất tốt, chỉ cần chết thôi là xong tất cả. Nhưng bạn còn phải sanh lại nữa. Đó là sự thật. Việc bạn làm bây giờ và cách bạn chết như thế nào sẽ ảnh hưởng đến những kiếp sau của bạn.

Ngay cả khi phải chết, chúng ta cũng phải học cách chết thật tốt đẹp, chết với chánh niệm.

Đừng bao giờ sử dụng cái chết như một giải pháp. Đức Phật không bao giờ ca ngợi cái chết.

Tôi cảm thấy rất buồn cho những người tự tử như vậy. Họ thực sự mong muốn một điều gì đó và họ sẵn sàng để mua nó bằng chính cuộc sống của mình. Họ muốn từ bỏ, từ bỏ vui thú dục lạc và thậm chí cả cuộc đời mình để đổi lấy một cái gì đó tốt đẹp hơn. Đó không phải là một giải pháp tốt và điều đó cũng cho thấy xã hội hiện nay đầy rẫy những điều bất toại nguyện và đau khổ. Nhiều người có tiền của và sống vui thú, hưởng thụ, nhưng họ không hề hạnh phúc.

Thực sự tôi cũng muốn khuyến khích mọi người tham gia sinh hoạt trong một tập thể, một nhóm bạn đạo, song bạn phải lựa chọn hết sức cẩn thận. Bạn phải biết rõ mục đích và những điều họ dạy là gì. Ở đây chúng ta biết rõ mình đang làm việc gì. Chúng ta biết rõ mục đích của mình.

Đừng bao giờ nghe theo thầy một cách mù quáng, ngay cả với tôi cũng vậy. Đức Phật không khuyến khích mọi người theo lời Ngài một cách mù quáng.

Hầu hết các bạn ở đây đã biết bài kinh Kālāma sutta. Trong bài kinh đó, Đức Phật dạy: đừng vội tin vào bất cứ điều gì. Điều này rất quan trọng; lời dạy này của Đức Phật rất mới, rất cách mạng. Điều quan trọng là phải hiểu biết sâu sắc về Phật Pháp. Ngay cả người theo đạo Phật đôi khi cũng diễn dịch sai giáo pháp cho phù hợp với tư kiến của mình. Không ai có thể ngăn họ làm điều đó, nhưng nếu bạn hiểu được cốt lõi căn bản thực sự của Phật Pháp, bạn sẽ thấy ra được đúng sai. Rất nhiều điểm cốt yếu, quan trọng chúng ta có thể kiểm chứng được bằng cách đó.

Bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục bài giảng về thiền Vipasanā. Cái tôi đang muốn làm ở đây là, bởi vì, khi người ta viết hay giảng về thiền Vipasanā, tôi nhận thấy những điều họ viết và giảng thường là sai. Họ cố gắng giảng về thiền Vipassanā, nhưng những điều họ nói không thực sự chính xác. Những điều họ giảng về tuệ giác hay sự chứng đạo không đúng. Đó là lý do tại sao tôi cố gắng diễn đạt rõ ràng, bằng một ngôn ngữ đơn giản thế nào là tuệ giác và thế nào là chứng đạo, để các bạn biết đúng sai khi nghe ai nói về điều đó. Vì vậy tôi cũng giới thiệu các trích đoạn Pāli kèm theo, đó là những lời dạy của Đức Phật. Những trích đoạn này chỉ là những tiêu chí. Bạn có thể kiểm nghiệm chúng.

Hôm nay tôi sẽ nói tiếp về tuệ thứ năm. Bốn tầng tuệ đầu tiên rất quan trọng. Chúng ta phải đi chậm và nói chi tiết hơn các tuệ khác. Song khi đã đạt đến tuệ thứ tư thì phần còn lại sẽ dễ dàng hơn. Tuệ đầu tiên khó, tuệ thứ hai và tuệ thứ ba không khó lắm, đến tuệ thứ tư lại khó. Nếu bạn tiếp tục thực hành, tuệ thứ 5 sẽ đến tiếp theo một cách tự nhiên. Ở tuệ thứ tư bạn đã thấy sanh diệt một cách rất rõ ràng, thấy cả hai: sanh và diệt, sanh diệt rất rõ. Ở tuệ thứ 5, sanh diệt trở nên nhanh hơn. Sau một thời gian thấy sanh diệt…bạn không chú ý nhiều đến sự sanh nữa, mặc dù vẫn có thể thấy nếu chú tâm đến nó, nhưng bạn sẽ chú ý nhiều hơn đến sự diệt, sự biến mất, không còn ở đó nữa. Bạn chú tâm đến nó và nó không còn ở đó nữa…

Khoảnh khắc bạn cố nhận biết, cố thấy một cái gì đó, nó liền biến mất.

Bạn không thể thực sự thấy được nó, chỉ thấy được một thoáng của nó, rồi nó không còn ở đó nữa.

Đó là một đặc điểm của tuệ thứ 5.

Một đặc điểm quan trọng nữa là: khi nhận biết một đối tượng nào đó, như âm thanh chẳng hạn, bạn nghe âm thanh và nó liền biến mất. Bạn hay biết một loại cảm giác nào đó trong thân, ngay khoảnh khắc bạn hay biết, nó đã không còn ở đó nữa. Bạn thấy tâm nhận biết cũng biến mất. Trong cùng một tiến trình không gián đoạn, không hề có một suy nghĩ nào chen ngang, bạn thấy được cả hai cùng biến mất. Một từ Pāli, ñāta, nghĩa là được biết, có một cái gì đó được nhận biết. Khi bạn chú tâm đến một đề mục, đề mục đó được gọi ñāta, cái được hay biết. Vậy, lúc đầu hành giả thấy đề mục diệt mất, biến mất. Sau đó là ñāṇa, nghĩa là tuệ giác biết đề mục đã diệt mất. Thấy được cái gì đó diệt, đó chính là tuệ giác, đó là anicca-ñāṇa, trí tuệ hiểu biết vô thường. Hành giả quán sát đề mục và thấy nó sanh diệt, song vị ấy thấy sự diệt của nó rất rõ ràng; nó đã diệt mất, không còn ở đó nữa. Và cả tuệ giác Vipassanā nữa, tâm (hợp với trí tuệ) cũng diệt. Vậy cả đề mục (ñāta) và tuệ minh sát (ñāṇa) cùng diệt. Cũng cùng tiến trình như vậy đối với mỗi sự nhận biết, mỗi khi chú tâm, hành giả thấy được cả hai, không cần cố gắng, và không cần phải cố cũng thấy được cả hai diệt mất. Chỉ trong một sự nhận biết, cái này tiếp nối cái khác một cách tự động, không hề có một suy nghĩ nào chen ngang. Đó là một đặc điểm rất quan trọng và khác biệt của tuệ thứ 5, được gọi là Bhanga-ñāṇa, Tuệ Diệt. Bhanga nghĩa là hoại diệt, tan rã.

Ở giai đoạn này, mỗi khi hành thiền, dù với bất cứ đề mục nào, thậm chí đó là các cử động (không còn chú tâm đến hình dáng nữa, mà chỉ chú ý đến các cảm giác), hành giả hay biết được cảm giác và sự diệt rất nhanh, tiếp nối nhau rất rõ. Mọi hình dáng và thể khối đều biến mất, điều đó nghĩa là bạn không còn chú tâm đến hình dáng và thể khối nữa. Bạn chỉ chú ý đến các cảm giác và sự hoại diệt rất nhanh của chúng. Thấy đề mục diệt rất nhanh, đó là tuệ diệt đầu tiên, gọi là paṭhama-bhanga-ñāṇa. Thấy chính tuệ giác diệt đi là tuệ diệt thứ hai, gọi là dutiya-bhanga-ñāṇa. Hai mức tuệ giác này đi cùng nhau tạo thành Tuệ Diệt (bhanga-ñāṇa) hoàn chỉnh. Trong bất cứ tầng tuệ nào cũng có giai đoạn sơ khởi và giai đoạn chín muồi. Lúc đầu bạn thấy đề mục diệt đi rất nhanh. Khi tuệ giác này trở nên chín muồi và mạnh hơn, bạn thấy được sự diệt của tâm, tâm thiền Vipassanā và tuệ giác cũng cùng diệt.

Bạn nhận biết một đề mục, nó diệt mất và tâm hay biết sự diệt đó cũng diệt.

 

Diệt không có nghĩa là chuyển sang một dạng tồn tại khác; đây là điểm tôi muốn làm rõ.

Vô thường (anicca) không có nghĩa là thay đổi và tồn tại dưới một dạng khác. Vô thường nghĩa là diệt mất, không còn ở đó nữa; là sự không tồn tại  của hiện tượng. Hiện tượng sanh diệt và không còn tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào.

Trong vật lý lượng tử về các hạt hạ nguyên tử, bạn có thể hiểu được điều này. Không hình dạng, không dáng hình, chỉ là năng lượng. Robert Oppenheimer nói, nếu bạn hỏi: “Hạt điện tử có ở nguyên một vị trí không?”. Câu trả lời là không. Vậy nó thay đổi? Câu trả lời vẫn là không. Nó có trụ ở đâu đó không?. Câu trả lời là không. Vậy nó chuyển động? Câu trả lời vẫn là không. Một hạt điện tử chỉ là một mô hình lý thuyết; một cái gì đó biến mất và một cái gì đó sanh ra. Có mối liên hệ giữa chúng với nhau, nhưng chúng không phải cùng là một thứ.

Có rất nhiều từ Pāli để giải thích Tuệ Diệt này. Khaya là một cái gì đi đến kết thúc, cạn kiệt. Vaya cũng có nghĩa y hệt; bheda có cùng một nghĩa là hoại diệt; nirodha là đi đến chấm dứt. Tất cả các từ này đều có cùng một nghĩa. Câu kinh Pāli: “khayato vayato disvā ~Vsm 641, nghĩa là thấy nó không còn tồn tại nữa. Nó tồn tại trong một khoảng thời gian rất ngắn ngủi, chỉ thế thôi, rồi không còn nữa.

Bạn có thể thấy được điều này ở tất cả 6 căn môn (dvāra): mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Ở tất cả 6 căn môn, bất cứ điều gì bạn nhận biết, bạn chỉ nhận biết nó một cách thuần túy và nó sẽ không còn tại đó nữa. Bạn có thể thấy điều này ở tất cả các căn, chứ không phải chỉ ở một căn nhất định nào.

Như vậy, đề mục diệt mất và tâm thiền (Vipassanā) hay biết đề mục ấy cũng diệt, một tâm khác hay biết chính tâm thiền đó cũng diệt mất.

Thấy đề mục thứ nhất diệt và thấy tâm hay biết-lúc đó đã trở thành đề mục cho một tâm khác (purimavatthuto aññavatthusankamanā), chính tâm ấy cũng diệt. Bạn có thể thấy được nhiều tầng lớp, nhiều lần như vậy. Nhưng cũng không cần thiết phải thấy nhiều lần đến thế. Tuy nhiên, ít nhất bạn cũng phải thấy được đề mục diệt và tâm tuệ minh sát cũng diệt. Thực ra chỉ cần thế là đủ, song có thể sẽ tiếp diễn nhiều lần như vậy.

Hành giả thấy sự diệt rõ đến mức không cần chú ý đến sự sanh nữa. Ở tuệ thứ tư hành giả chú ý đến sự sanh diệt, ở tuệ thứ 5 vị ấy chỉ chú ý đến sự diệt mà không còn chú ý đến sự sanh. Ngay từ lúc đầu thực hành chúng ta chỉ thấy sự sanh, không thấy được sự diệt. Trước khi thấy đề mục diệt, chúng ta thấy một đề mục khác đã sanh lên. Sau một thời gian chúng ta sẽ thấy được sanh và diệt. Sau đó chúng ta chỉ thấy diệt. Đó là cách thức tuệ giác phát triển đến độ chín muồi.

Udayaṃ pahāya vaye santiṭṭhanā. ~PtsAi.258

 Bỏ qua (pahāya) sự sanh (udayaṃ), tâm an trú (santiṭṭhanā) trong sự diệt (vaye). Tâm chỉ q­uán sát sự diệt. Điều đó làm cho hiểu biết về vô thường trở nên rất vững mạnh. Đó chính là đỉnh cao của tri kiến về vô thường.

Trong quá trình thấy sự diệt, không có cái gì xen vào giữa. Tâm không bị xao lãng, phân tán vào bất cứ thứ gì khác; ở giai đoạn này có rất ít suy nghĩ. Ở tầng tuệ đầu tiên, hành giả suy nghĩ một chút. Ở tầng tuệ thứ hai, hành giả suy nghĩ nhiều về nguyên nhân của sự sanh, sự hay biết và sự suy nghĩ. Ở tầng tuệ thứ ba còn nhiều suy nghĩ hơn nữa về thiền, về vô thường, khổ, vô ngã. Ở tầng tuệ thứ tư các suy nghĩ bớt dần đi. Ở tầng tuệ thứ 5, hầu như không còn một chút suy nghĩ nào nữa. Bạn không thể nghĩ được nữa. Sự diệt diễn ra rất nhanh, bạn không có thời gian để suy nghĩ về nó nữa. Tiến trình sẽ tiếp tục như thế cho đến khi đạt tới tầng tuệ thứ 9. Ở tầng tuệ thứ 8 và tầng tuệ thứ 9, một số suy nghĩ bắt đầu quay trở lại, nhưng đó chỉ là những suy nghĩ về Pháp, chứ không phải suy nghĩ chuyện đời.

Sau đây là một số ẩn dụ mô tả Tuệ Diệt:

1) Ném vài hạt vừng vào trong một chảo sắt nóng đỏ, mỗi hạt vừng ném vào đều bị đốt cháy và tạo ra một tiếng xèo rất ngắn.

2) Mưa rơi trên mặt hồ. Bạn thấy các hạt mưa rơi xuống rất nhanh.

Không phải khi hành thiền là bạn sẽ thấy các hình ảnh này. Chúng chỉ là các ví dụ. Khi hạt mưa rơi xuống nước sẽ tạo thành các bong bóng, hiện lên và biến mất ngay lập tức.

Cũng không còn nhiều để nói về tuệ thứ 5 này nữa. Đó là tất cả. Bạn thấy mọi thứ diệt mất rất nhanh. Và điều này diễn ra liên tu bất tận, không phải chỉ một thứ diệt rồi bạn dừng lại và suy nghĩ.

Bạn có thể thấy sự diệt trong hàng tiếng đồng hồ, lặp đi lặp lại như vậy hoài. Vì thấy mọi thứ cứ diệt, biến mất liên tục nên bạn cảm thấy tiến trình này thật nguy hiểm; nó diệt mất quá nhanh, bạn không thể nương tựa vào nó. Bạn không thể tự đồng hóa bản thân mình với nó được nữa. Bạn thấy nó là nguy hiểm nhưng bạn không sợ hãi nó. Không sợ hãi là rất quan trọng. Khi bạn bắt đầu sợ, nỗi sợ quá lớn và bạn sẽ ngừng lại không hành thiền nữa. Điều đó có nghĩa: đây là một tuệ giác, bởi vì nỗi sợ thực sự phải đến từ sự tự đồng hóa. Nếu không tự đồng hóa mình với nó, và bạn chỉ thấy mọi thứ diệt đi, không phải cá nhân người nào, khi đó nó chẳng có liên quan gì với bạn cả. Bạn thấy không ai có thể tự đồng hóa với nó, không thể bám víu, nương tựa vào nó. Không có chỗ nào cho mình dựa dẫm được. Không có điều gì là chắc chắn trong những tiến trình thân tâm này cả.

Việc nhìn thấy nguy hiểm có đáng sợ không?

Không, bởi sợ hãi là một loại tâm sân, một loại phiền não, nó xuất phát từ sự tự đồng hóa.

Bạn thấy nó nguy hiểm, nhưng bạn không sợ nó.

Bổng nhiên nhìn thấy một con hổ trong rừng chẳng hạn, bạn thực sự sợ hãi và tìm đường thoát thân. Nhưng khi xem một bức tranh hổ trong vườn thú, bạn biết con vật này nguy hiểm nhưng bạn không quan tâm tới nó, không bỏ chạy.

Một số người khi cảm thấy rất sợ, họ lại lầm tưởng nỗi sợ này là một loại tuệ giác.

Tuệ giác thực sự không có sợ hãi.

Người trí thấy trẻ con chơi đồ nguy hiểm thì nói: “Đừng chơi đồ ấy, nguy hiểm lắm” song bản thân người ấy thì không sợ hãi.

Tuệ giác đó là tuệ thứ 6, bhaya-ñāṇa-Tuệ thấy nguy hiểm (Kinh úy tuệ), “thấy các hành là nguy hiểm”, hành giả trở nên không thích thú, không vui mừng. Ở tầng tuệ thứ tư bạn có rất nhiều hỷ lạc, cảm thấy rất phấn chấn và an lạc. Ở tầng tuệ thứ 6 không còn sự an lạc và hỷ tràn ngập nữa. Đôi lúc bạn cảm thấy rất tĩnh lặng, không buồn chán, cũng không phấn khởi. Khi Tuệ thấy nguy hiểm “thấy tiến trình thân, tâm là đáng sợ, là nguy hiểm” này đã chín muồi, nó chuyển sang thấy ra những điều khiếm khuyết, bất toàn. Thực ra chỉ là cùng một sự việc, song được nhìn từ một góc độ khác mà thôi.

Khiếm khuyết, bất toàn trong tiếng Pāli là ādīnava. Bạn thấy rõ không có gì tốt đẹp trong tiến trình thân, tâm này cả, nó không thể làm cho bạn hạnh phúc. Ở giai đoạn này hành giả có thể thấy, trước kia cũng như bây giờ, mọi thứ đều đi đến hoại diệt. Tương lai cũng sẽ như thế, dù cái gì xảy ra, một cuộc đời tốt đẹp, cao sang hay xấu xa, thấp kém, tất cả rồi sẽ hoại diệt, cũng như nó đang diễn ra bây giờ. Vậy thì cũng chẳng nên mong mỏi có được một cuộc sống tốt đẹp hơn làm gì.

Nói chung mọi người thường nghĩ nếu được tái sanh vào một nơi tốt đẹp hơn thì hay biết mấy. Song nếu bạn thực sự thấy rõ ràng và cặn kẽ tiến trình thân và tâm đang luôn hoại diệt này, bạn sẽ hiểu ra rằng: “Để làm gì? mọi thứ đều hoại diệt quá nhanh, ham muốn này nọ có ý nghĩa gì nữa đâu?”.

Lúc đó bạn không còn mong muốn bất cứ một kiếp sống, một cảnh giới nào nữa. Nhưng nếu đánh mất tuệ giác này thì bạn vẫn còn mong muốn. Thời điểm bạn có được tuệ giác này, bạn có thể thấy rằng không có cái gì đáng để sở hữu cả, bạn không thể sở hữu được bất cứ cái gì.

Mỗi khi hành giả nhận biết, nó liền diệt mất; không dính mắc, không mong muốn níu giữ nó. Hành giả thấy rằng sanh là nguy hiểm (uppādo bhayam~Pts i.59). Sự trở thành, sự hiện hữu là nguy hiểm. Sự tiếp diễn là nguy hiểm (pavattaṃ bhayaṃ~Pts i.59). Bất cứ cái gì đang diễn ra cũng đều là nguy hiểm. Ngay cả ý nghĩ rằng: có một thứ gì đó sẽ đem lại hạnh phúc cho mình, để rồi cố gắng đạt được nó-đó cũng là một điều nguy hiểm (āyuhanā bhayaṃ ~Pts i.59). Đôi khi có những suy nghĩ rất ngắn chợt đến, trong một thoáng hành giả chợt hiểu được lời dạy của Đức Phật, nếu đã từng đọc trước đó. Những câu kệ, lời kinh rất ngắn chợt hiện đến trong tâm. Có lần, đang ngồi thiền, đột nhiên tôi thấy đoạn cuối Thập Nhị Nhân Duyên (paṭiccāmuppāda) tự động hiện lên trong tâm. Lúc đó bạn không không hề suy nghĩ về nó, song lại hiểu được ý nghĩa của nó một cách rất sâu sắc và rất rộng. Câu kinh hiện lên trong tâm tôi lúc đó là: “Evametasa kevalassa dukkhakkhanhassa samudayo hoti” và “Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hoti”.

Evametassa là theo cách này. Kevalassa là một từ rất quan trọng, nghĩa là không trộn lẫn, đồng hóa với bất cứ cái gì. Dukkhakkhandhassa nghĩa là một đống đau khổ chồng chất.

Nghĩa là “Chỉ là một đống khổ đau sanh khởi, không đồng hóa, trộn lẫn cùng một chúng sanh nào, nó không phải là hạnh phúc, an lạc”. Không trộn lẫn, đồng hóa là rất quan trọng. Cái sanh lên đó chỉ thuần túy là đau khổ, và cái diệt mất đó cũng chỉ thuần túy là đau khổ mà thôi.

Không phải một người nào, không có gì vui thích, chỉ là đau khổ. Tiến trình này quả là không đáng hài lòng, sanh và diệt.

Bạn không còn thấy nó là tôi hay của tôi nữa, nó không phải là một người hay một thực thể nào cả, chỉ thuần túy là một tiến trình. Bạn không có quyền làm chủ đối với nó; không thể ra lệnh cho nó “đừng diễn ra nữa”. Mọi việc đều diễn ra thuận theo nhân duyên của nó. Người đa văn, học nhiều sẽ nhớ được rất nhiều điều như vậy.

Không sanh là nơi an toàn (Anuppado khemaṃ~Pts i.59). Nếu không có gì diễn ra cả thì thật an toàn biết bao. Cái gì có sanh, ắt có diệt. Không có gì là an toàn cả. Khemaṃ cũng có nghĩa là Niết Bàn. Một điều rất khó để hiểu được, đó là: “không sanh là cực lạc” (Anuppādo sukhaṃ~Pts i.59).

Hầu hết mọi người đều cho rằng hạnh phúc là có cái để hưởng thụ. Còn ở đây, hạnh phúc nghĩa là không đau khổ. Vì vậy, trong Tứ diệu đế chỉ có Khổ đế chứ không có Lạc đế.

Mỗi đế đều có một chữ khổ trong đó (Khổ đế, Tập đế, Đạo đế, Diệt đế). Không hề có lạc đế. Song lạc chính là không khổ. Khi không còn khổ đau, thì đó chính là nơi hạnh phúc, an vui nhất.

Anuppādo nibbānam.~Pts i.60

Vô sanh là Niết Bàn.

Khi đã thấy được sự khiếm khuyết của sự sanh và diệt này, hành giả bước vào tuệ giác tiếp theo, Tuệ Yếm ly-Nibbidā ñāṇa, trí tuệ yếm ly, nhàm chán, không còn thích thú tham đắm bất cứ thứ gì. Xét về một mặt nào đó, yếm ly (nibbidā) có nghĩa là chán ngán, không phải là chán hành thiền, mà với nghĩa là hành giả thấy sự sanh diệt …sanh và diệt liên tu bất tận, “không có gì là đáng thích thú cả”, một sự việc y hệt lặp đi lặp lại hoài, không bao giờ chấm dứt. Hành giả thấy không có gì là vui thú ở đây cả. Ở giai đoạn đầu thiền tập, hành giả cảm thấy rất an lạc, chứng nghiệm nhiều trạng thái hỷ lạc, niềm vui và sự an bình, thanh thản. Ở giai đoạn này, mặc dù tâm tĩnh lặng song không còn những cảm giác như vậy nữa. Bạn thấy tất cả mọi thứ đều biến diệt. Tâm bạn trở nên nhàm chán và không muốn nghĩ đến bất cứ điều gì nữa. Khi mới hành thiền thì bạn muốn nghĩ. Thậm chí suy nghĩ còn trở nên rất thú vị nữa. Bạn có thể tư duy rất tốt, rất hiệu quả. Nhưng đến giai đoạn này, khi có suy nghĩ và bạn quan sát sự suy nghĩ đó, nó liền biến mất, bạn bị buông rơi vào một trạng thái trống rỗng. Không còn một suy nghĩ nào nữa. Ngay cả suy nghĩ cũng là một việc đáng nhàm chán. Nó không còn thú vị cũng chẳng mang lại niềm hứng khởi, thích thú gì nữa. Một số người đã diễn tả trạng thái này như sau: “Tôi không còn muốn suy nghĩ đến bất cứ điều gì nữa. Tại sao phải suy nghĩ làm gì? Không cần thiết phải làm thế. Trước nay chúng ta đã suy nghĩ quá nhiều”.

Ngay cả suy nghĩ về Pháp cũng là một loại đau khổ.

Ở giai đoạn này, hành giả sẽ hiểu được điều này từ môt bài kệ như sau:

Sabbe sankhārā aniccā ti,

                   Yadā paññāya passati,

Atha nibbindati dukkhe,

               Esa maggo visuddhiyā.   ~Dhpd 277

Sabbe sankhārā aniccā ti: Sankhārā nghĩa là hành, là bất cứ cái gì được cấu tạo bởi nhân duyên, bất cứ thể loại hiện tượng nào, đều được gọi là hành. Sabbe sankhārā aniccā nghĩa là tất cả các hành là vô thường.

Yadā paññāya passati: Khi thấy được điều này bằng trí tuệ.

Atha nibbindati dukkhe: Hành giả trở nên yếm ly, nhàm chán với đau khổ.

Esa maggo visuddhiyā: Đây chính là con đường thanh tịnh. Bởi vì bạn không còn dính mắc với chúng nữa, bạn không còn buồn khổ, thất vọng vì chúng nữa, do đó bạn đã hoàn toàn buông bỏ.

Sabbe sankhārā dukkhā ti,

                   Yadā paññāya passati,

Atha nibbindati dukkhe,

               Esa maggo visuddhiyā.    ~Dhpd 278

Bài kệ đầu (Dhpd.277) nói về vô thường, bài kệ thứ hai (Dhpd.278) nói về khổ, nghĩa của chúng cũng gần tương tự như nhau. Nhưng bài kệ thứ ba này mới thật là quan trọng:

Sabbe dhammā anattā ti,

                   Yadā paññāya passati,

Atha nibbindati dukkhe,

               Esa maggo visuddhiyā.   ~Dhpd 279

Hai bài kệ đầu, bạn thấy là tất cả các hành là vô thường, tất cả các hành là khổ (Sabbe sankhārā aniccā, sabbe sankhārā dukkhā), song bài kệ thứ ba thì nói tất cả các pháp là vô ngã (sabbe dhammā anattā). Ở đây pháp (dhammā) là tất cả mọi cái hiện hữu.

Có một số người tôi đã từng gặp, họ lý luận rằng: Đức Phật nói ngũ uẩn này là vô ngã, nhưng Ngài không nói rằng không có một cái ngã (hay linh hồn) nào cả. Họ tới hỏi tôi: Đức Phật nói ngũ uẩn này là vô ngã, như vậy còn có một cái là ngã, điều mà Đức Phật không phủ nhận, có phải vậy không? Tôi trả lời: “Không phải vậy”.

Đức Phật nói rằng sabbe dhammā anattātất cả mọi thứ, mọi khái niệm, ngay cả Niết Bàn nữa, cũng đều vô ngã, không loại trừ một pháp nào.

Chữ Dhammā-Pháp bao hàm tất cả mọi thứ, không loại trừ một cái gì. Tất cả đều là Pháp.

Không có một cái gì có thể gọi là ngã cả.

Chính vì vậy, bài kệ này có ý nghĩa rất quan trọng.

 

Bhayatupaṭṭhānaṃ ekameva tīṇi nāmāni labhati.

                                                                           ~Vsm 651

Tuệ Thấy Nguy hiểm (bhaya-ñāṇa, hay còn gọi là Kinh úy Tuệ), Tuệ Kinh sợ (ādīnava-ñāṇa, hay Quá hoạn Tuệ) và Tuệ Yếm ly (nibbida-ñāṇa) – ba tuệ này thực chất chỉ là một (ekameva), song được mang (labhati) ba tên gọi khác nhau (tīṇi nāmāni).

Yā ca bhayatupaṭṭhāne paññā yañ ca ādīnave

ñāṇam yā ca nibbidā, ime dhammā ekatthā,

byañjanam eva nānaṃ. ~Pts ii.63

Khi bạn thấy nó là nguy hiểm (yā ca bhayatupaṭṭhāne paññā), khi bạn thấy sự khiếm khuyết, bất toàn của nó (yañ ca ādīnave ñāṇam), thấy nó thật nhàm chán (yā ca nibbidā), tất cả những điều này thực chất chỉ là một (ime dhammā ekatthā), được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau (byañjanam eva nānaṃ).

Như vậy sẽ có nhiều tên gọi khác nhau cho một tuệ giác. Bạn có thể thấy tuệ giác này từ 3 góc độ khác nhau: nguy hiểm, khiếm khuyết, không có gì đáng vui thích.

Sau khi đã thấy mọi thứ đều là nguy hiểm, mọi sự sanh diệt là khiếm khuyết, bất toàn, tất cả đều không đáng vui thích, hành giả muốn được thoát ly khỏi tất thảy những điều này và cảm thấy hết sức nhàm chán, mệt mỏi với chúng. Đây được gọi là muñcitukamyatā, “Tuệ Muốn Giải thoát(Dục thoát tuệ). Đây là tầng tuệ tiếp theo. Quán sát thân này, toàn bộ cả 5 uẩn này, hành giả thấy nó không đáng để dính mắc, chấp thủ vào bất cứ uẩn nào. Hành giả muốn giải thoát khỏi tất cả các hành, muốn vượt ra khỏi chúng. Khi bạn cảm thấy không an lạc ở một nơi nào đó chẳng hạn, bạn sẽ nghĩ đến việc đi khỏi nơi đó, tìm kiếm một nơi chốn an bình, hạnh phúc hơn. Bạn không thể tìm thấy bất cứ sự an lạc nào trong 5 uẩn này, bạn muốn giải thoát khỏi chúng. Đôi khi bạn còn thấy ngay cả việc hay biết cũng rất mệt mỏi…, nhận biết, …quán sát…, hành thiền…Những việc đó thật là mệt mỏi.

Hãy xem bạn đã tiến bộ đến mức nào! Lúc đầu bạn còn ham thích, đắm say trong các thú vui ngũ dục. Khi bắt tay hành thiền, bạn muốn từ bỏ các thú vui này. Nhưng khi đã hành thiền, bạn trở nên tĩnh lặng, an lạc và hạnh phúc và rồi bạn lại dính mắc vào những trạng thái an lạc đó.

Song khi đã đạt đến giai đoạn này thì ngay cả thiền cũng không làm bạn dính mắc nữa.

Ngay cả thiền cũng trở nên thật nhàm chán.

Bạn muốn giải thoát khỏi cả nó nữa.

Điều đó cũng đúng, như thế là tốt.

Bạn muốn giải thoát khỏi đề mục thiền, và thoát ly khỏi tâm thiền; bạn muốn thoát ra khỏi cả hai. Bạn muốn thoát ra khỏi đề mục và tâm chánh niệm đang hành thiền. Điều đó có nghĩa là bạn không muốn nhận biết thêm bất cứ thứ gì nữa.

Trong một số trường hợp, hành giả cảm thấy quá chán ngán việc quan sát sự sanh diệt, đến mức cho rằng tốt hơn hết là không quan sát nữa. Họ ngừng lại không quan sát, không chú ý đến nó. Có lúc tâm trở nên trống rỗng, không bị xao lãng đến bất cứ đối tượng nào nữa, bởi vì hành giả đã quá nhàm chán đến nỗi không thể có hứng thú với bất cứ đối tượng nào. Nếu hành giả ngưng hành thiền, tâm vẫn tĩnh lặng nhưng sẽ không còn thấy sanh diệt nữa. Hành giả thấy như vậy lại tốt hơn, an lạc hơn và thú vị hơn.

Tâm vẫn tĩnh lặng, sống trong khoảng trống rỗng đó. Tuy nhiên, nếu ở trong trạng thái đó lâu, hành giả sẽ mất đi sự sáng suốt và rồi rơi trở lại địa ngục, không có lối thoát.

Ngừng hành thiền không phải là một lối thoát.

Hành giả tiếp tục chú tâm lại, tiếp tục thấy tất cả mọi thứ chỉ tồn tại trong một sát na ngắn ngủi. Nó chỉ tồn tại giữa khoảng sanh và diệt, quá ngắn ngủi; đó chỉ là một tiến trình khiến cho mọi thứ có vẻ như trường tồn.

Khi bạn xem phim, trong mỗi giây máy chiếu lên màn hình khoảng 20 bức hình. Màn hình tắt đi 20 lần trong mỗi giây, song bạn không hề thấy được khoảng tối, bởi vì mắt bạn không thể phát hiện nhanh đến vậy. Khi ta nhìn thấy một người đang di chuyển, thực ra không có sự di chuyển nào cả, chỉ là những hình ảnh tiếp nối nhau xuất hiện, chúng chỉ khác nhau tí chút. Bởi vì chúng ta không thấy được khoảng trống giữa hai hình, nên thấy chỉ như là cùng một người đang đi. Chỉ trong một khoảnh khắc rất ngắn ngủi, một hình ảnh xuất hiện rồi biến mất, rồi lại một hình ảnh khác xuất hiện.

Trong thiền, bạn có thể nhìn được nhiều như vậy, bởi bạn có thể thấy được 20 hình biến mất trong mỗi giây. Đối với một hành giả có tâm định thì mỗi giây là một khoảng thời gian rất dài.

Thời gian bị biến dạng đi rất nhiều.

Thông thường, chúng ta có vīthi-citta (tâm tiến trình) và bhavanga-citta (tâm hữu phần). Vīthi-citta là tâm quan sát bất cứ những gì đang diễn ra ở đây và bây giờ. Dòng tâm hữu phần là một trạng thái tâm nền, nó không có đề mục có thể nhận biết rõ ràng; nó chỉ duy trì sanh mạng và sự liên tục của dòng tâm thức mà không có một đề mục hiện tại nào cả. Thông thường con người có khoảng trống này rất rộng, trong thời gian dài, quá trình duy trì tâm này được gọi là dòng hữu phần. Một tâm sanh khởi và diệt mất, nhận biết bất cứ cái gì đang diễn ra hay suy nghĩ về một việc gì đó, rồi cách quãng một đoạn, rồi một tâm khác lại sanh lên, diệt đi – trong tiến trình đó chánh niệm về một đối tượng hoặc một suy nghĩ nào đó và rồi lại đến một khoảng trống nữa. Thông thường mọi người đều có một khoảng cách quãng khá rộng. Khoảng cách này càng lớn thì chúng ta biết càng ít, càng đãng trí, thất niệm nhiều.

Càng hành thiền, tâm chúng ta càng sắc bén hơn và khoảng cách quãng này càng hẹp lại.

Như vậy trong cùng một tiến trình thời gian, chúng ta có chánh niệm nhiều hơn; chánh niệm được nén lại vào trong khoảng thời gian này.

Chẳng hạn, lúc đầu mỗi giây chúng ta chú tâm vào một sát na chánh niệm, sau một thời gian tăng lên 5, 10, 15, 20…Càng chánh niệm, bạn càng cảm thấy thời gian như dài thêm. Thời gian là gì? Thời gian chỉ là một tư tưởng. Khi bạn hoàn toàn không ý thức được điều gì đang diễn ra, hoàn toàn không có ý thức, lúc đó tâm bạn không biết được thời gian.

Trong tầng tuệ này, có lúc một ý nghĩ rất ngắn nào đó sẽ chợt thoáng qua, như là “không có gì là ổn định cả (cala)”, “mọi thứ đều chuyển dịch, xáo động và không kéo dài”, những ý nghĩ như vậy sẽ khởi lên trong tâm. “Không có cốt lõi nào trường tồn trong đó (asāraka)”, “mọi thứ đều không có thực thể”. Đôi khi cũng có cả ý nghĩ như thế này (sankhata) “mọi thứ sanh khởi bởi vì có đủ nhân duyên khiến nó sanh”. Những ý tưởng rất ngắn ngủi, thoáng qua như vậy sẽ đến…Đôi khi hành giả cảm thấy sự sanh diệt liên tục thật là bức bách, như một sự tra tấn, không có điểm dừng. Giống như có người phát ra một âm thanh chói tai kéo dài; sau một lúc âm thanh đó trở nên rất khó chịu, như một sự tra tấn. Hành giả quan sát sự sanh diệt quá lâu đến mức cảm thấy mình bị mắc kẹt trong đó…đây chỉ là một cái bẫy, một sự tra tấn. Đôi khi điều này đến mức không thể chịu đựng nổi. Đối tượng này là đau khổ. Sự sanh diệt này thật sự là đau khổ. Phải quan sát sự sanh diệt cũng là đau khổ.

Đôi khi bạn thấy cuộc sống này là một căn bệnh kinh niên; nó cứ tiếp diễn hoài, dù bạn vẫn nghĩ là mình mạnh khoẻ, nhưng nó vẫn luôn sanh diệt. Đừng nghĩ ngợi quá nhiều về nó, nếu không bạn sẽ bị rơi vào trầm cảm.

Những tư tưởng thoáng qua đến một cách tự nhiên; hãy nhận biết chúng rồi xả bỏ. Đừng dừng lại và suy nghĩ quá nhiều. Nếu dừng lại để suy nghĩ, bạn sẽ nghĩ rất hay, bởi vì tâm không bị xao lãng nữa; bạn có thể viết sách về Phật Pháp được nữa. Nhưng đừng ngừng lại và nghĩ ngợi. Nếu nghĩ quá nhiều, bạn sẽ bị trầm cảm.

Khi suy nghĩ là bạn đã tự đồng hoá.

Suy nghĩ làm cho bạn có cảm tưởng rằng BẠN đang suy nghĩ. Suy nghĩ làm cho bạn cảm thấy có sự liên tục, bởi suy nghĩ sẽ kết nối mọi việc.

Không suy nghĩ, sẽ không có sự liên kết giữa việc này với việc kia.

Khi suy nghĩ là bạn kết nối sự việc lại với nhau. Suy nghĩ là thứ làm cho chúng ta cảm thấy dường như có sự liên tục và liên kết. Không suy nghĩ thì không có sự kết nối, không có sự liên tục; chỉ có cái gì đó đang sanh diệt, chỉ như vậy thôi, không có ý nghĩa gì khác.

Có lúc bạn nghĩ sự sanh diệt này giống như một cái gai trong bắp thịt mình. Đôi khi bạn lại có cảm tưởng rằng cuộc sống là một căn bệnh. Khi nói về trạng thái của tầng tuệ này, nó có vẻ như rất tiêu cực và bi quan. Bạn thấy nó như một nỗi nguy hiểm không được cảnh báo trước. Nó giống như một trái bom nổ chậm. Bạn có thể chết bất cứ lúc nào.

Mọi việc đều có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào; cuộc đời này thật khó đoán định. Tiến trình này không phải là nơi bạn tìm đến trú ẩn và được an toàn (atāṇa). Không phải là nơi nương nhờ và trú ẩn.

Đó là những loại suy nghĩ thoáng qua sẽ đến với bạn.

Khi người ta dính mắc vào những đối tượng này-chúng chính là những đối tượng của sự dính mắc-chúng sẽ làm tâm bạn ô nhiễm. Bạn có thể thấy rõ chúng chính là những đối tượng của phiền não. Ngay cả trong giai đoạn này, bạn cũng thấy rõ được đặc tướng khổ, song nó khác với loại khổ mà bạn chứng nghiệm trong giai đoạn đầu thực hành. Trong giai đoạn đầu, bạn không thấy được khổ là trong mỗi sát na sanh diệt. Tuy nhiên, đến giai đoạn này, bất cứ cái gì sanh diệt bạn đều thấy nó là khổ, không đáng hài lòng, song bạn thấy nó như từng sự việc tiếp nối nhau, rất rõ ràng.

Tất cả các tuệ minh sát (vipassanā-ñāṇathực chất chỉ là vô thường, khổ và vô ngã.

Nói một cách ngắn gọn về tuệ minh sát thì chỉ có ba. Thậm chí bạn còn có thể gộp chúng vào một tuệ duy nhất: tất cả chỉ là sanh diệt. Đây là cách chúng ta diễn giải chi tiết. Còn thực chất tầng tuệ nào cũng là vô thường, khổ, vô ngã cả.

Thậm chí, ngay cả sau tầng đạo quả đầu tiên, bạn sẽ lại chứng nghiệm cùng một sự việc như vậy nhưng một cách sâu sắc hơn. Đôi khi bạn thấy tiến trình này không thuộc về một người nào; không ai sở hữu nó. Những tiến trình này không có chủ sở hữu. Bạn chú ý vào cái nghe, nó sanh lên và diệt mất. Bạn biết mình không sở hữu được cái nghe này, nó đã biến mất. Chúng ta nghĩ rằng cái thân này là của tôi (cảm giác sở hữu), có một “cái tôi” ở đó. Ở tầng tuệ này, bạn có thể thấy rằng không có ai sở hữu những tiến trình tự nhiên này cả. Bạn cũng nhận ra mình không thể ra lệnh cho nó được. Bạn không thể bảo nó: “Phải diễn ra như thế này, đừng xảy ra như thế kia; ở lại đó và không được đến nữa”.

Không có chủ sở hữu. Bạn cũng thấy chúng trống rỗng, không có tự ngã, không có linh hồn, không phải đàn ông, đàn bà. Vô thường, khổ, vô ngã có nhiều góc độ khác nhau.

Mặc dù có lúc hành giả cảm thấy muốn ngừng hành thiền, “Có ích lợi gì khi nhìn những thứ này, chúng thật khổ não, không đáng hài lòng? Sao cứ phải nhìn chúng hoài như vậy”. Nhưng sau đó hành giả sẽ hiểu rằng dừng lại không phải là một giải pháp. Tốt hơn cả là tiếp tục tiến lên, tiếp tục nhận biết, không còn con đường nào khác.

Đối với một số người, cần phải mất một thời gian khá lâu để phát triển mỗi tầng tuệ giác. Đối với một số khác thì chỉ cần một khoảnh khắc ngắn ngủi, có khi chỉ trong mấy phút, mấy giờ hoặc mấy ngày là được. Một số phải mất vài tháng. Điều đó còn tuỳ thuộc vào động cơ của mỗi người. Nếu bạn nghĩ rằng mình có nhiều thời gian và muốn thẩm nghiệm mỗi tầng tuệ một cách từ từ và kỹ lưỡng, thì có thể mất một thời gian khá lâu. Nếu không muốn làm như thế, bạn có thể chú tâm nhiều hơn và đẩy nhanh tốc độ quá trình đó lên.

Đôi khi, trong giai đoạn này, hành giả bắt đầu nghĩ: “pháp hành của tôi không còn tốt đẹp như trước nữa”. Điều này rất nguy hiểm. Họ cảm thấy không hài lòng về sự thực hành của mình.

Thực ra họ không hài lòng về chính tiến trình đó, nhưng sự bất mãn này lại chuyển sang một đối tượng khác, họ nghĩ: “Trước đây tôi hành thiền rất tốt, nhưng bây giờ lại không được như vậy nữa; tôi không thấy mọi thứ rõ ràng như trước nữa”. Bởi vì khi mọi thứ chuyển dịch chậm, nó trụ lại lâu hơn và bạn có thể thấy chúng rất rõ. Nhưng ở giai đoạn này, mọi thứ đều biến dịch quá nhanh đến nỗi bạn không biết phải làm gì nữa. Thậm chí bạn không thể thấy được nó nữa, bởi vì nó cứ biến mất…biến mất, rất nhanh. Mọi thứ không còn hứng thú gì nữa. Ở tầng tuệ thứ tư, mọi việc đều rất hứng thú đối với bạn. Nhưng giờ đây chúng không còn như vậy nữa. Chúng trở nên nhàm chán và đơn điệu.

Hãy cẩn thận; khi nhàm chán, bạn hãy tự nhắc nhở mình rằng: “mọi việc đang tiến triển tốt đẹp”.

Một số người dừng lại và bỏ cuộc. Nhiều thiền sư nói: “Thật đáng tiếc! Đáng buồn thay. Họ cần phải tiếp tục hành thiền, rồi sau đó sẽ có bước đột phá. Nhưng họ lại dừng lại và bỏ cuộc, họ chán nản và mất hết mọi hứng thú”.

Đừng chán nản, hãy tiếp tục tiến lên!

Đây chính là tuệ thứ 10: Paṭisankha-ñāṇa.

Bhanga-ñāṇaTuệ Diệt.

Bhaya-ñāṇa Tuệ Thấy Nguy hiểm.

Ādīnava-ñāṇa – Tuệ Thấy Khiếm khuyết, bất toàn.

Nibbidā-ñāṇa Tuệ Chán nản.

Muñcitukamyata-ñāṇaTuệ Muốn Giải thoát.

Paṭisankha-ñāṇaTuệ Giản trạch, quay lại với thiền tập.

Nếu muốn giải thoát thì bạn không thể chạy trốn, vì vậy hãy quay lại hành thiền.

Tuệ tiếp theo sẽ là Tuệ Xả hành (sankhārupekkhā-ñāṇa), tuệ này rất thâm sâu, rất quan trọng và thú vị. Sau tuệ thứ 11, còn một số tầng tuệ khác nữa nhưng chúng chỉ diễn ra trong vòng nửa giây đồng hồ, do đó bạn không thể làm được gì với chúng cả. Sau tuệ thứ 11, sẽ không còn đường quay trở lại nữa, mọi việc sẽ tiến triển rất nhanh chóng.

Một điều rất thú vị và đáng ngạc nhiên là các vị Bồ Tát sẽ thành Phật trong tương lai, khi đến tầng tuệ 11 này họ dừng lại, không tiến lên tiếp nữa. Và khả năng có thể dừng lại ngang đây quả thật là đáng kinh ngạc, vị ấy sẽ dừng lại ở đó, không vượt qua bờ kia. Bởi vì một vị Alahán sẽ không thể trở thành một Đức Phật Chánh đẳng giác!

Hỏi & đáp: Tôi rất đồng cảm với mọi người. Đôi khi tôi cũng rất buồn. Bạn chỉ vượt qua được nỗi buồn khi đã trở thành một vị Thánh Anahàm (Anāgāmī-bậc Thánh Bất lai). Tôi chưa phải là bậc Thánh Anahàm. Vì vậy tôi vẫn cảm nhận được nỗi buồn, nhưng tôi biết rồi nó sẽ qua đi và không bị mắc kẹt trong đó. Tôi không tức giận, mà chỉ cảm thấy rất buồn. Buồn cũng là một loại tâm sân. Những người này đang tìm kiếm một điều gì đó ngoài những thú vui dục lạc và tiền bạc. Họ có một ước muốn rất tốt, rất đẹp và tôi cảm thấy buồn bởi vì họ đã lãng phí cuộc đời của mình; thật là phí phạm. Nếu những người này nhận được sự hướng dẫn tốt, họ sẽ có thể học hỏi và trưởng thành. Họ đã bỏ lỡ một cơ hội vô cùng quý giá. Tôi cũng nghĩ có thể có rất nhiều người như họ nữa, họ tìm kiếm một điều gì đó về tâm linh, tìm kiếm một sự giải thoát nào đó, nhưng lại không có một người thầy tốt, không được sự hướng dẫn tốt. Sự kiện này chỉ là một phần nổi của tảng băng chìm. Có thể nó sẽ còn tái diễn nữa. Cần phải làm một điều gì đó. Tôi không nói rằng một người nào đó phải chịu trách nhiệm về việc này, mà cả cộng đồng đều phải có trách nhiệm với nó.

Chúng ta không thể làm được điều gì cho cả thế giới này, nhưng hãy nghĩ đến những việc chúng ta có thể làm được ở đây và bây giờ.

Chúng ta đã dạy bảo con cái và bạn bè mình những gì? Chỉ cho rằng đó là do nghiệp của họ thì chẳng giải quyết được vấn đề gì cả. Chúng ta cần tìm ra một giải pháp; điều đó có thể sẽ xảy ra đối với con cái, hoặc cháu chắt chúng ta sau này. Mọi người đang bị mất phương hướng. Những người tự tử đó không phải là người nghèo. Tôi được nghe khá nhiều về họ. Họ rất giàu có. Tại sao họ lại chết? Tại sao họ lại tự tử? Tại sao thầy họ, người lãnh đạo của họ lại bảo họ tự tử và giúp họ chết như vậy?

Hỏi & đáp: Trong Phật Pháp, việc đổ lỗi hoàn toàn cho nghiệp quá khứ không phải là chánh kiến. Nếu nói chúng ta chẳng thể làm được gì, vậy sao còn cố làm công này việc kia để làm gì! Nếu tôi nói rằng nghiệp của tôi là sẽ được đắc đạo quả, vậy tôi còn phải đổ mồ hôi sôi nước mắt hành thiền làm gì? Chúng ta làm để cùng với sự hỗ trợ của nghiệp quá khứ và cái đang làm hiện nay là nghiệp hiện tại, chúng ta sẽ thành đạt được một điều gì đó. Ngay cả khi nghiệp quá khứ cho quả xấu, nếu chúng ta làm điều gì đó bây giờ, nó có thể làm thay đổi được chiều hướng của nghiệp quá khứ hoặc ngăn chặn nghiệp quá khứ cho quả. Chúng ta cần phải tin tưởng vào nghiệp hiện tại mình đang làm. Hoàn toàn quy thuận, phục tùng nghiệp quá khứ, đó là một loại tà kiến (micchā-diṭṭhi). Đức Phật không dạy rằng chúng ta không thể làm được bất cứ điều gì đối với nghiệp.

Trong một số trường hợp, khi có người vừa qua đời, Đức Phật nói rằng người đó đã có đủ balamật quá khứ để đắc quả Alahán, nhưng ông ta không chịu cố gắng. Nếu bạn không cố gắng, điều đó sẽ không xảy ra.

Nghiệp quá khứ cộng với nghiệp hiện tại là rất quan trọng. Dù bất cứ những gì đã xảy ra trong quá khứ, bây giờ là lúc bạn cần một người thầy giỏi, bây giờ bạn cần phải thực hành. Cũng giống như việc điều khiển một chiếc máy bay. Có rất nhiều lực tác động chẳng hạn như gió bão và nhiều sự việc bất ngờ xảy ra, máy bay cũng có nguồn năng lượng riêng của nó. Có thể một lúc nào đó, một động cơ ngừng hoạt động, người phi công phải bay với một động cơ, phải tính toán đến sức gió và các yếu tố khác, luôn luôn phải cố gắng điều chỉnh. Đấy cũng là điều chúng ta phải làm trong cuộc đời của mình. Chúng ta luôn luôn phải điều chỉnh. Chúng ta lèo lái cuộc đời mình đến đích. Chúng ta làm chủ được một phần nào đó, có được một phần tự do nào đó. Chúng ta cần phải hiểu điều này thật rõ và triệt để tận dụng nó. Chúng ta có thể định hướng cuộc đời mình tới đích. Chúng ta phải hiểu thật thấu đáo điều đó và phải làm hết khả năng của mình.

Sinh ra ở đây, chúng ta không có quyền lựa chọn mẹ cha mình, không thể lựa chọn màu da, dáng vóc hay bất cứ điều gì, song chúng ta cũng có một số quyền lựa chọn nhất định.

Chúng ta có quyền lựa chọn tu dưỡng các phẩm chất của mình. Điều này rất đáng phấn khởi.

Nghiệp nằm ở trong tay chúng ta.

Chúng ta bị tác động bởi nghiệp quá khứ rất nhiều, tôi hiểu rất rõ điều này, những việc tôi làm trong những kiếp trước tác động đến tôi rất nhiều, rất mạnh, hoặc theo chiều hướng tốt hoặc theo chiều hướng xấu. Khi đã hiểu về nghiệp, tôi nghĩ: bây giờ dù cho bất cứ việc gì xảy đến trong cuộc đời mình thì cũng hoàn toàn OK, nó sẽ phải xảy ra như vậy, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi không có quyền điều khiển. Nó xảy ra, và cách tôi hiểu về nó và đáp ứng lại nó chính là nghiệp hiện tại của tôi. Hiểu và đáp ứng một cách thích hợp là điều rất quan trọng, và điều đó nằm ở trong tay tôi. Nếu tôi có được những người thầy giỏi, có được sự hướng dẫn tốt và nếu tôi hiểu được mọi việc một cách thấu đáo, tôi có thể lèo lái, điều khiển được cuộc đời mình. Điều này rất đáng phấn khởi và đó cũng là một loại quyền năng của chúng ta.

Chúng ta không hoàn toàn bất lực; nếu tu tập chánh niệm và trí tuệ, chúng ta sẽ có rất nhiều sức mạnh. Không nhất thiết phải thất vọng và từ bỏ. Đừng bao giờ bỏ cuộc cả! 

Khi còn trẻ, tôi đã từng phải gánh chịu rất nhiều bất hạnh. Tôi có một thời niên thiếu thật đau khổ, và không chỉ thời niên thiếu mà đến cả ở cuối những năm 20 tuổi, tôi phải trải qua rất nhiều đớn đau, khổ não nhiều lần tôi đã nghĩ đến tự tử, cho xong tất cả. Nhưng có cái gì đó thật sâu trong tâm tôi bảo rằng đừng làm như thế, đó chỉ là một giai đoạn trong cuộc đời mà tôi phải trải qua mà thôi, chỉ là một quá trình học hỏi thôi mà, hãy làm điều gì đó tốt đẹp bây giờ và học hỏi ra từ chính kinh nghiệm này.

Cần phải có những trải nghiệm đau đớn như vậy. Không có đau khổ, chúng ta sẽ không học hỏi và trưởng thành lên được.

Giờ đây, khi nhìn lại cuộc đời mình, tôi mới thấy rằng mình đã tiếp xúc, va chạm với rất nhiều sự kiện đa dạng, có rất nhiều thầy, rất nhiều tôn giáo, nhiều nỗi đam mê và cũng thật nhiều đau khổ. Bây giờ tôi hiểu được rằng tất cả những điều đó giúp tôi trở thành một con người tốt đẹp hơn. Tôi đã học hỏi được nhiều bài học và tôi rất vui về điều đó. Điều quan trọng là phải hiểu được những điều này.

Hỏi: Ngài nói rằng khi chánh niệm sắc bén, độ dài của dòng tâm hữu phần (bhavanga-citta: hộ kiếp tâm) sẽ được rút ngắn lại; và điều này cũng liên quan đến cả sự cảm nhận về thời gian nữa, xin Ngài giải thích thêm về điểm này?

Đáp: Trong giấc ngủ sâu, dòng tâm hữu phần trôi chảy liên tục. Trong khoảng thời gian đó, chúng ta không còn ý thức về thời gian nữa. Chúng ta không biết là mình đã ngủ bao lâu. Có lúc chúng ta nghĩ mình đã ngủ rất lâu, nhưng nhìn đồng hồ thì mới chỉ có vài phút. Lúc khác, chúng ta lại có cảm giác mình chưa ngủ đủ, nhưng thực ra xem lại mới nhận ra mình đã ngủ rất lâu rồi. Chúng ta mất dấu thời gian, không còn ý niệm về thời gian nữa. Dòng tâm hữu phần càng kéo dài, chúng ta càng mất dấu thời gian. Khi ở trong dòng tâm hữu phần, chúng ta không sử dụng được thời gian của mình. Càng dành nhiều thời gian để hay biết, chúng ta càng có thêm nhiều thời gian cho chính mình.

Khi hành thiền, chúng ta tu tập vīthi-citta, là tâm biết cảnh hiện tại. Chúng ta càng thực hành nhiều, thì mặc dù có lúc tâm vẫn rơi lại vào trạng thái nền (Bhavanga-dòng tâm hữu phần hay hộ kiếp tâm), nhưng nó sẽ không ở lại lâu trong đó. Một tâm khác sẽ sanh lên với đầy đủ sức mạnh của nó. Vì vậy, khoảng tâm hữu phần sẽ ngày càng ngắn lại. Chẳng hạn như mỗi giây bạn chánh niệm được một lần, thì trong 10 giây bạn chỉ có được 10 tâm chánh niệm, và ở khoảng giữa thì toàn là dòng tâm hữu phần. Nếu bạn chú tâm hơn nữa, nó có thể lên đến 100 lần. Điều đó nghĩa là bạn sẽ có thêm thời gian. Bạn sẽ làm được nhiều việc hơn trong khoảng thời gian có thêm ấy. Bạn có thể hay biết được nhiều đề mục hơn. Theo cách đó, bạn sẽ có cảm tưởng mình có nhiều thời gian hơn. Bốn tầng tuệ giác có thể sanh khởi (tuệ thứ 12, 13, 14 và 15) chỉ trong vòng một giây đồng hồ, làm sao điều đó có thể xảy ra trong một khoảng thời gian ngắn như vậy?

Hỏi: Bạch Ngài, có thể đạt được 4 tầng tuệ giác này mà không cần tu tập trong môi trường tu viện không ạ?

Đáp: Được, có thể được. Nó còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nữa. Trong thời Đức Phật và ngay cả thời bây giờ, tôi biết một số người là cư sỹ tại gia nhưng đã đạt được những tầng tuệ giác rất sâu sắc.

Hỏi & đáp: Chỉ có suy nghĩ mới làm cho bạn tự đồng hoá mình với nó. Đó là lý do tại sao tôi đã cảnh báo các bạn rất nhiều lần là đừng suy nghĩ quá nhiều. Những suy nghĩ thoáng qua vẫn đến một cách tự nhiên; bạn nhận biết nó và buông bỏ. Suy nghĩ sẽ làm cho bạn tự đồng hoá mình với nó. Khi suy nghĩ sanh khởi, chỉ cần hay biết nó. Ở giữa các tầng tuệ giác, những chớp suy nghĩ vẫn xuất hiện, chúng rất rõ. Bạn không cố ý suy nghĩ. Quá trình khái niệm hoá cũng là một chức năng của tâm. Nó xảy ra một cách tự nhiên. Trong bất cứ tầng tuệ nào cũng đều có những chớp suy nghĩ sanh khởi. Xét về một mặt nào đó, nó chỉ để làm rõ thêm tuệ giác đó. Nó có lợi ích nhất định, nhưng nếu suy nghĩ quá nhiều thì lại trở thành một trở ngại.

Hỏi & đáp: Đạo và phi đạo (đạo phi đạo tri kiến tịnh) xảy ra ở tầng tuệ giác thứ 4, dính mắc vào kinh nghiệm hỷ lạc trong thiền và nhận ra đó không phải là chánh đạo, rồi quay lại với thiền tập. Đây cũng là một loại suy nghĩ, nhưng là suy nghĩ đúng đắn. Sammā-diṭṭhi (Chánh kiến), Sammā-sankappa (Chánh tư duy), đều là những nhân tố cần thiết. Trong tiếng Anh, đó là thấy đúng đắn, tư duy đúng đắn và chân chánh.

Hỏi & đáp: Một số người bỏ thiền, họ muốn thoát khỏi nó. Một số người thực sự đã đứng dậy bỏ đi. Họ muốn giải thoát, giải thoát khỏi cái gì? Dù đi đâu chăng nữa, bạn cũng luôn luôn phải mang theo cái thân ngũ uẩn này. Đôi khi khát vọng giải thoát, khát vọng đi khỏi lại được diễn dịch nhầm ra thành lánh xa khỏi môi trường xung quanh. Điều này có thể diễn ra một cách vô thức. Đối với tôi, khi hành đến giai đoạn này, tôi không muốn sống ở trong chùa nữa. Tôi nghĩ đó không phải là một nơi thích hợp. Tôi muốn tìm một nơi tốt hơn, yên tĩnh, xa vắng và thanh bình hơn, ở đây có quá nhiều xáo động. Vì vậy, ước muốn thoát khỏi tiến trình này lại bị hiểu nhầm thành mong muốn đi khỏi nơi mình đang sống. Đôi khi có những việc đáng buồn đã xảy ra; có người bỏ việc, người ly hôn; ngay cả khi những sự việc ấy đã xảy ra, họ vẫn muốn giải thoát, giải thoát khỏi cái gì? Điều này xảy ra bởi vì họ bắt đầu nghĩ và nhìn nhận tất cả mọi thứ đều là khổ não và bất toại nguyện. Họ thấy công ăn việc làm, người họ cùng chung sống, nơi họ đang ở đều không tốt đẹp. Họ muốn bỏ đi, muốn được tự do. Chúng ta không thể bỏ đi lên sống trên mặt trăng được; chúng ta phải ở trên thế giới này và sống cùng mọi người. Đó là lý do tại sao khi thiền sinh đạt đến giai đoạn này, điều rất quan trọng là phải cảnh báo họ đừng nghĩ ngợi quá nhiều, chỉ hành thiền thôi, bởi vì nếu nghĩ ngợi, bạn sẽ hướng khát vọng “muốn được giải thoát” đó đến một đối tượng khác mà nó sẽ còn gây ra nhiều sự lầm lẫn, mơ hồ hơn nữa.

Thật là khó để giải thích được những điều này một cách thực sự, thậm chí là cho chính bản thân mình nữa. Đôi khi nó xảy đến rất nhanh; bạn không biết điều gì đã xảy ra nữa, bạn cảm thấy rất khác lạ nhưng không biết điều gì đã xảy ra. Điều rất quan trọng là bạn phải trao đổi điều này với thầy của mình, đó phải là người đã từng hành thiền và đã trải qua tất cả những kinh nghiệm này, đã nghiên cứu, học hỏi và có khả năng hiểu được sự việc diễn ra như thế nào, và tại sao nó diễn ra. Bạn cũng nên trao đổi với những thiền sinh đã thực hành nhiệt tâm, hết mình và cũng đã thực sự trải nghiệm qua những điều như vậy. Một người không thể trải nghiệm tất cả mọi thứ một cách chi tiết được. Vì vậy, bạn cần phải có thầy và những người khác để cùng trao đổi, và nếu có được kinh nghiệm đó trong một thời gian dài, bạn sẽ hiểu được nó một cách rất sâu sắc. Do vậy, khi một thiền sinh trở nên chán nản và trông rất buồn, không hứng thú với bất cứ điều gì nữa, đôi khi cũng không cảm thấy muốn ăn, ngay cả đồ ăn cũng không có gì hấp dẫn nữa, khi đó một người thầy giỏi sẽ thấy được rằng học trò mình đang có tâm trạng chán nản. Thiền sư có thể khuyến khích, sách tấn và cảnh báo học trò mình: “hãy tiếp tục thực hành, đừng chán nản, đừng bỏ cuộc, đây là điều mà con phải vượt qua”.

Một số người nghĩ rằng sau tầng tuệ thứ tư mọi thứ sẽ thú vị, an lạc và vui vẻ hơn.

Không, điều đó không hề xảy ra. Mà nó sẽ đi xuống. Chúng ta phát triển được tuệ giác sâu sắc hơn, và lại không cảm thấy hạnh phúc chút nào, nhưng đây không phải là sự trầm cảm.

Hỏi & đáp: Sống ở một nơi thanh vắng, ít công việc, ít phận sự rất có lợi. Nó giúp định và tuệ phát triển nhanh chóng hơn. Song Đức Phật cũng rất có lòng thương tưởng đến chúng sanh. Một lần, tôi nói với Sư phụ tôi là: thay vì trở thành một nhà sư, có lẽ con sẽ làm một đạo sĩ thì tốt hơn, bởi vì một nhà sư phải phụ thuộc quá nhiều vào người khác. Là một đạo sĩ tôi có thể tự trồng rau, tự nấu nướng và được sống một cách độc lập, bởi vì sống một cuộc sống đơn giản thì chỉ cần rất ít là đủ. Sư phụ nói rằng không nên làm đạo sĩ, và người khuyên tôi xuất gia làm một nhà sư. Lúc đó tôi vẫn chưa xuất gia. Sư phụ hỏi tôi có biết tại sao Đức Phật không cho phép các Tỳ kheo gieo trồng, cấy hái và nấu nướng bất cứ loại thực phẩm nào không. Tôi nói: thực sự con cũng không hiểu lý do tại sao, bởi con nghĩ, trước kia Đức Phật cũng từng làm đạo sĩ cả một thời gian dài. Sư phụ nói: đúng, nhưng đó là trước khi Ngài thành Phật. Nếu các nhà sư tự gieo trồng, cấy hái, tự nấu nướng và sống tách biệt với mọi người thì ai sẽ là người duy trì Giáo Pháp? Con không tiếp xúc với mọi người, thì ai sẽ dạy dỗ họ?

Tiếp xúc với mọi người là điều rất quan trọng, song điều quan trọng khác là đôi khi bạn cũng nên phải sống một mình.

Sư phụ giảng giải điều đó cho tôi một cách thật nhẹ nhàng, dịu dàng và đầy tình thương. Người thuyết phục tôi xuất gia trở thành một nhà sư. Tôi nói tôi không muốn dạy và điều duy nhất tôi muốn làm là sống một cuộc đời yên tĩnh và bình an.

Thực chất tôi là một người rất nhút nhát, một số người trong các bạn cũng có thể nhận ra được điều ấy. Khi còn trẻ tôi rất ít nói. Khi có người yêu cầu tôi phát biểu, dù chỉ trong 5 phút thôi mà tôi cũng lúng túng, bối rối đến nỗi nói ra những điều mình không định nói. Tôi xấu hổ đến mức nghĩ rằng sẽ không bao giờ nói chuyện trước đám đông nữa. Sau này, ngay cả khi đã trở thành một nhà sư, có người đề nghị tôi cho xin giới, tôi cũng không thể làm được. Tôi lẫn lộn lung tung và còn đọc nhầm các điều giới nữa. Tôi đã thực sự nghĩ rằng: “Đây không phải là công việc dành cho tôi, tôi không muốn nói chuyện hay thuyết pháp, tôi không thuyết pháp được”. Sư phụ nhẹ nhàng khuyến khích tôi đi thuyết pháp, nói chuyện. Thực tế là tôi đã chạy trốn. Nhiều lần Sư phụ nói hãy đến ở với người và giúp người dạy học. Tôi trả lời, không ạ.

Một buổi tối tôi đến chỗ ở của Sư phụ và nói rằng tôi chuẩn bị ra đi, tôi xin đảnh lễ và xin sám hối với Sư phụ nếu đã trót lỡ làm điều gì sai trái với người. Tôi đã chạy trốn đến mấy năm trời, khoảng 6 năm bởi vì Sư phụ muốn tôi ở gần người và dạy thiền. Sư phụ muốn đưa tôi đi cùng sang các nước phương Tây, đến Mỹ; tôi nói là tôi không muốn đi. Tại sao tôi lại phải cần đến nơi đó làm gì? Rất kiên nhẫn, chậm rãi và với đầy tình thương, người đã khuyến khích tôi dạy thiền.

Hỏi & đáp: Thực ra không phải tôi tự trở lại với Sư phụ. Tôi bị viêm Amiđan và sốt rét, rồi tình cờ lại ở cùng trong một thành phố nơi người đang có mặt. Ngày nào tôi cũng bị sốt cao và một người bạn bảo tôi phải ra thành phố chữa bệnh, nếu cứ ở lại đó thì tôi sẽ chết. Thế là tôi phải về thành phố và đến bệnh viện cắt Amiđan. 10 ngày sau ca mổ, khi tôi đã bắt đầu hồi phục và có thể nói được một chút thì có người nói Sư phụ tôi đang có mặt trong thành phố này. Sư phụ nghe nói tôi đang ở đây và phải mổ, vì vậy người hỏi thăm mọi người về tình hình sức khoẻ của tôi. Tôi nghĩ: mình sẽ làm gì bây giờ đây, mình không thể chạy trốn nữa. Tôi đến đảnh lễ Sư phụ và người bảo tôi ở lại đó. Tôi nghĩ, trời ạ, mình không thể lại nói không với thầy lần nữa! Sư phụ nói, 2 năm tới Sư phụ sẽ đi Mỹ lại lần nữa và đang chuẩn bị cho chuyến đi đó. Tôi nói: “Vậy cũng được, con sẽ đi rồi về cùng với Sư phụ”, bởi vì tôi biết Sư phụ sẽ không ở lại đấy. Sư phụ nói thế thì được, Sư phụ sẽ không để con lại ở đấy đâu. Vì vậy tôi chuẩn bị trong vòng hai năm, bởi vì từ lâu tôi đã hoàn toàn bỏ không đọc sách vở gì nữa. Đọc sách quả là một gánh nặng, tôi phải hiểu, ghi nhớ và dịch sang tiếng Anh. Tôi phải biết từ Pali tương ứng trong tiếng Anh là gì nữa. Tôi cố tìm được cuốn từ điển Pali-Anh và phải nhớ hàng ngàn từ mới…phải nhớ bao nhiêu thứ vào đầu như thế thật là khổ. Tôi đã từ bỏ học hành và suy nghĩ trong một thời gian quá lâu rồi, và điều đó thật là thích. Phải mất hai năm để chuẩn bị, ngày nào cũng phải học.

Khi chúng tôi đến Mỹ, Sư phụ nói mình sẽ chỉ ở lại đây khoảng 4 tháng, và tôi nghĩ thế cũng được. Sau 4 tháng ở Mỹ, Sư phụ nói bây giờ Sư phụ phải về còn con sẽ ở lại đây. Sư phụ nói điều đó một cách đầy tình cảm, thật là khó có thể nói không với Sư phụ. Sư phụ luôn nói một cách rất dịu dàng; Sư phụ không chờ đợi bạn sẽ nói không, Sư phụ chẳng bao giờ chờ đợi người khác nói không cả. Sư phụ nói mọi người rất vui vì có con ở đây với họ, nếu có thể được thì con hãy ở lại. Tôi nói: vậy cũng được, con sẽ không xin phép Sư phụ nữa và con muốn biết Sư phụ có cho phép con được trở về bất cứ khi nào con muốn không. Sư phụ nói: được, con có thể trở về khi nào con muốn. Tôi nghĩ mình sẽ ở lại trong vòng 3 tháng, như vậy là ở Mỹ 7 tháng cả thảy, nhưng rồi phải đến 14 tháng sau tôi mới có thể trở về được. Lúc đó tôi nghĩ thế là đủ đối với mình, tôi rất vui vì đã đến đây, tôi đã học hỏi được rất nhiều, nhưng tôi phải trở về. Mấy người bạn của tôi nói: “Chúng tôi sẽ làm cho sư phải hối hận vì đã bỏ rơi chúng tôi lại như thế”. Họ là những học giả Pali xuất sắc nhưng lại không biết nói tiếng Anh. Tôi nói với họ là tôi đã làm hết sức mình và xin phép cho tôi được trở về.

Khi tôi trở lại, Sư phụ nói: một nhà sư có những lúc cần phải sống độc cư một mình để tu tập, nhưng cũng cần phải tiếp xúc với mọi người nữa. Nhiều lần tôi nói với người là tôi vẫn chưa học đủ, Người nói rằng nếu cứ đợi cho đến lúc đó thì con sẽ chết trước khi học đủ. Bao nhiêu mới là đủ? Sư phụ cũng cảnh báo tôi đừng tự cho mình là một người thầy, phải biết khiêm tốn. Điều này rất quan trọng. Tôi biết có những người đã phạm rất nhiều sai lầm. Nhiều người thầy phạm sai lầm là đã tự mãn rằng mình là một người thầy. Họ không có đủ sự khiêm cung. Khiêm tốn là điều rất quan trọng. Tôi giúp đỡ bạn nhiều đến mức có thể, tôi không phải là người biết tất cả mọi thứ trên đời, tôi biết được điều gì đó và cố gắng hết sức để giúp đỡ các bạn. Tôi không thể cung cấp cho các bạn những kiến thức hoàn chỉnh được, bởi vì tôi cũng chỉ hiểu biết được phần nào mà thôi. Tôi không biết tất cả mọi thứ, nhưng biết được đến đâu, tôi muốn chia sẻ hết với các bạn đến đó. Những người thầy khác sẽ đến và giúp đỡ các bạn học hỏi thêm nữa. Đó là tất cả những điều mà tôi có thể hy vọng được. Tôi sẽ ở lại đây trong 4 tháng và sẽ giúp đỡ các bạn đến mức có thể được.

<< Chương trước Mục lục Chương tiếp >> 

3 phản hồi

  1. […] Chương VIII: Từ tuệ thứ năm đến tuệ thứ mười – Từ Tuệ Diệt đến Tuệ T… […]

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s