Mặc dù chánh niệm (sự chú ý) được giữ ở vị trí quán sát của nó, nhưng do áp suất nhẹ của không khí, ít nhiều sẽ vẫn có một nhận thức rõ rệt về luồng hơi thở đi qua cơ thể. Tuy nhiên, thiền sinh không nên đặt sự chú ý trực tiếp lên nó. Điều tương tự cũng xảy ra với cái nhìn, mặc dù được tập trung vào một đối tượng xác định, nhưng mắt cũng sẽ bao gồm trong tầm nhìn của nó một số đối tượng lân cận. Cũng giống như vậy, chánh niệm có một phạm vi mở rộng nhất định vượt ra ngoài tâm điểm mà nó đã chọn. Có một ví dụ rất thích hợp cho việc này trong kinh điển Phật giáo cổ xưa: Nếu một người cưa một khúc gỗ, sự chú ý của vị ấy sẽ tập trung vào “điểm tiếp xúc” giữa lưỡi cưa và khúc gỗ. Cùng lúc, vị ấy cũng sẽ ý thức được sự di chuyển của lưỡi cưa đến và đi khỏi điểm tiếp xúc, tuy nhiên sẽ không đặt một sự chú ý đặc biệt đến điều này.
Nyanaponika Thera
Trong các pháp hành Phật giáo, không được giữ hay dừng hơi thở, không cố ý thở sâu hay cố gắng ép hơi thở vào một nhịp điệu thời gian nhất định nào cả. Nhiệm vụ duy nhất ở đây là theo dõi dòng chảy tự nhiên của hơi thở một cách chánh niệm và liên tục mà không có một sự ngắt quãng nào hoặc không có sự ngắt quãng nào mà không được ghi nhận.
Nyanaponika Thera
“Bởi vì các tiến trình tâm sẽ chỉ trở nên rõ rệt đối với thiền sinh đã nắm bắt được các tiến trình thân một cách hoàn toàn rõ rệt, bất kỳ nỗ lực nào trong việc nắm bắt các tiến trình tâm chỉ nên được thực hiện bằng cách nắm bắt các tiến trình thân một cách triệt để, chứ không phải bằng cách nào khác… Nếu thiền sinh thực hành như vậy, pháp hành trên đề mục thiền của vị ấy sẽ tăng trưởng, phát triển và trưởng thành.”
Thanh tịnh đạo
“Sau khi đã quán niệm các tiến trình thân (sắc), nếu thiền sinh tiếp tục với các tiến trình tâm (danh) và chúng không phô bày bản thân một cách rõ ràng, thì vị ấy không nên từ bỏ việc thực hành. Thay vào đó, vị ấy nên lặp đi lặp lại việc nghiền ngẫm, xem xét, nắm bắt và xác định rõ ràng đặc điểm của các tiến trình thân. Nếu các tiến trình thân trở nên hoàn toàn rõ rệt (không lẫn lộn và rõ ràng) đối với thiền sinh thì các tiến trình tâm với đối tượng là các tiến trình thân đó sẽ tự nó trở nên rõ ràng.”
Thanh tịnh đạo
“Nếu thân không được làm chủ (bởi thiền tập; abhāvito) thì tâm cũng sẽ không được làm chủ. Nếu thân được làm chủ, tâm được làm chủ.”
Mahā-Saccaka Sutta
“Này các Tỳ-khưu, bất cứ ai đã phát triển và thường xuyên thực hành pháp quán thân, đối với vị ấy, trong đó có tất cả những điều lợi ích dẫn đến trí tuệ.”
Kāyagatāsati Sutta
Khi hành thiền chánh niệm trong môi trường bình thường mà thiền sinh đang sinh sống và làm việc, vị ấy nên thực hiện một cách kín đáo nhất có thể, do bởi các lý do về mặt tâm linh cũng như do bởi thực tế trong cuộc sống. Việc thực hành chánh niệm và tỉnh giác cần thể hiện ở kết quả của nó, chứ không phải ở bất kỳ một hành vi bên ngoài nào mà có thể trông bất thường đối với những người xung quanh. Thiền sinh có thể lựa chọn các bài thực hành thường ngày của mình một cách phù hợp, và dành các bài tập còn lại trong những dịp cho phép có được sự riêng tư của bản thân.
Nyanaponika Thera
Xét về tầm quan trọng của nó, một lần nữa cần nhấn mạnh rằng, đối tượng của chánh niệm là các tiến trình thân và tâm, khi chúng xảy ra. Trong quá trình hành thiền, thiền sinh không nên để mình bị cuốn vào những suy nghĩ hay cảm xúc lan man về chúng. Nếu các suy nghĩ hay cảm xúc lan man như vậy sinh khởi, thiền sinh nên giải quyết chúng như được đề nghị ở trên và sau đó quay trở về với đề mục ban đầu của chánh niệm.
Nyanaponika Thera
Khi tỉnh giác đã tăng trưởng, thiền sinh cũng có thể dành một sự chú ý đặc biệt đến các suy nghĩ và các tâm trạng hài lòng hay không hài lòng của mình, ngay cả khi chúng rất vi tế. Chúng là những hạt giống cho các hình thức mạnh mẽ hơn của tham và sân, của các cảm giác tự hào hay thấp kém, của sự phấn khởi hay chán nản. Do đó, điều quan trọng là phải làm quen với chúng, ghi nhận chúng và sớm ngăn chặn chúng lại. Thiền sinh cũng nên tránh các suy nghĩ vô ích về quá khứ hoặc tương lai. Bởi vì, pháp hành Tứ niệm xứ chỉ làm việc với hiện tại mà thôi.
Nyanaponika Thera
Mặt khác, thiền sinh cũng không nên đi đến các mức cực đoan, mà nên cho phép bản thân mình nghỉ ngơi khi các nỗ lực không còn hữu ích. Những khoảng thời gian nghỉ ngơi này cũng sẽ trở thành một phần của pháp hành (với một sự tập trung ít căng thẳng hơn), nếu thiền sinh vẫn duy trì được chánh niệm. Khi dòng chánh niệm của thiền sinh càng tự nhiên, càng thoải mái hoặc càng trở nên tự nhiên, càng trở nên thoải mái trong lúc theo sát sự sinh diệt liên tục của các đề mục được lựa chọn cũng như các đề mục đa dạng xảy đến trong quá trình thực hành thì vị ấy càng ít bị mệt mỏi.
Nyanaponika Thera
Thiền sinh cần nỗ lực một cách bền bỉ trong yên lặng mà không quan tâm quá nhiều đến các khó chịu trên thân, đặc biệt là trong một khoá thiền nghiêm ngặt. Thông thường thì sau khi bỏ qua, không để ý đến sự xuất hiện đầu tiên của sự mệt mỏi, thiền sinh sẽ khám phá ra được rằng, đằng sau nó là những nguồn năng lượng mới, “một cơn gió thứ hai”.
Nyanaponika Thera
Ba đến bốn giờ thực hành chánh niệm liên tục (nghĩa là không có các khoảng gián đoạn mà không được ghi nhận) được xem là mức thời gian tối thiểu mà một thiền sinh mới bắt đầu cần thực hiện trong một khoá thiền nghiêm ngặt. Tất nhiên, điều này không có nghĩa rằng ba hay bốn giờ là đủ cho cả ngày hành thiền. Nếu thiền sinh đánh mất “dòng” chánh niệm, dù là trước hay sau khoảng thời gian tối thiểu đó, thì vị ấy nên liên tục thiết lập lại chánh niệm và tiếp tục thực hành duy trì định tâm càng lâu càng tốt.
Nyanaponika Thera
Nếu có tiếng động gây xáo trộn xảy ra, thiền sinh có thể ghi nhận ngắn gọn chỉ là “âm thanh”. Nếu sau đó tiếp tục bị khó chịu bởi tiếng động, thiền sinh nên ghi nhận: “tâm có sân”. Và rồi vị ấy quay trở lại với bài tập thiền đã bị gián đoạn. Nhưng nếu không thể thành công ngay lập tức thì thiền sinh nên lặp lại quy trình tương tự như vậy. Nếu tiếng động lớn và dai dẳng khiến thiền sinh không thể chú ý đề mục thiền được thì vị ấy có thể xem nó (tiếng động) như là đề mục của chánh niệm, cho đến khi tiếng động không còn.
Nyanaponika Thera
Thiền sinh không nên để cho bản thân mình bị kích động, khó chịu hay nản lòng bởi sự xuất hiện của các suy nghĩ gây xao nhãng hoặc không mong muốn. Thay vào đó, nên đơn giản xem chính các suy nghĩ gây xáo trộn này tạm thời là đề mục của chánh niệm, biến chúng trở thành một phần của pháp hành (qua pháp Quán tâm, các trạng thái của tâm). Nếu những cảm giác khó chịu về cái tâm mất tập trung sinh khởi và kéo dài, thiền sinh có thể đối phó với chúng theo cùng một cách như trên. Hãy xem chúng như là một cơ hội thực hành Quán pháp, quán sát các đối tượng của tâm: Chướng ngại do bởi sân hận hay do bởi bất an và lo lắng.
Nyanaponika Thera
Tuy nhiên, nếu các cảm giác khó chịu hoặc mệt mỏi này kéo dài và cản trở việc hành thiền, thiền sinh có thể thay đổi tư thế hành thiền (ghi nhận ý định và hành động thay đổi) và rồi chuyển sang thiền đi, bước tới bước lui trong chánh niệm. Khi đó, thiền sinh cần phải chánh niệm về những giai đoạn đơn lẻ của mỗi bước chân. Việc phân chia các giai đoạn của bước chân thành sáu phần như được dạy trong bản chú giải sẽ là quá phức tạp cho thiền sinh mới bắt đầu. Thay vào đó, chỉ cần nhận biết ba hoặc hai giai đoạn là đủ. Để phù hợp với nhịp điệp hai âm tiết, nên thực hành như sau: 1. Nhấc lên, 2. Đưa tới, 3. Đặt xuống; hoặc 1. Nhấc lên, 2. Đặt xuống. Bất cứ khi nào thiền sinh muốn bước nhanh hơn, vị ấy có thể sử dụng hai giai đoạn. Còn lại thì nhịp điệu ba giai đoạn thường được ưa chuộng hơn, do bởi nó tạo ra một chuỗi nhận biết chặt chẽ hơn, không có chỗ nào bị gián đoạn.
Nyanaponika Thera
Nếu thiền sinh cảm thấy mệt mỏi, hoặc do bởi ngồi lâu nên chân bị đau hoặc tê, vị ấy cần hay biết các cảm nhận và cảm giác này. Thiền sinh nên duy trì sự hay biết đó chừng nào các cảm nhận và cảm giác này còn đủ mạnh để lôi kéo sự chú ý vào chúng và làm xáo trộn việc hành thiền. Đôi khi, chỉ bằng việc ghi nhận chúng một cách lặng lẽ và liên tục, ghi nhận thuần tuý, mà các cảm nhận và cảm giác này có thể biến mất, cho phép thiền sinh quay trở lại, tiếp tục với đề mục chính. Khi đặt sự chú ý lên các cảm giác quấy rối này, thiền sinh chỉ dừng lại một cách ngắn gọn với tuyên bố đơn thuần về sự có mặt của chúng, thay vì “nuôi dưỡng” các cảm giác này, mà do đó lại càng củng cố thêm sự hiện diện của chúng, do những thứ mà vị ấy thêm vào các sự kiện đơn thuần đang xảy ra.
Nyanaponika Thera
Trong suốt ngày hành thiền liên tục, bất cứ một tạp niệm nào, bất cứ một bước chân nào, một giai đoạn hoặc chuỗi chuyển động phồng xẹp nào ở bụng, hay bất cứ một phần nào của hoạt động nếu bị bỏ qua do thất niệm đều cần phải được ghi nhận một cách rõ ràng. Thiền sinh cần chú ý xem liệu các sự gián đoạn của dòng chánh niệm có được ghi nhận ngay sau khi nó vừa xảy ra hay không, và vậy thì vị ấy đã bị cuốn theo tạp niệm trong bao lâu, trước khi quay lại tiếp tục quán sát đề mục chánh niệm ban đầu. Thiền sinh cần nhắm vào việc ghi nhận được những khoảng gián đoạn này ngay lập tức và sau đó quay trở lại với đề mục ban đầu của mình. Điều này có thể dùng làm thước đo mức độ tỉnh giác đang tăng trưởng của thiền sinh. Một cách tự nhiên thì tần suất của những khoảng gián đoạn này sẽ giảm đi trong quá trình hành thiền, khi sự tĩnh lặng trong tâm trí và định tâm tăng trưởng. Năng lực thu được thông qua bài thực hành ghi nhận tức thời về các gián đoạn của chánh niệm là sự hỗ trợ quý giá trong việc củng cố khả năng tự kiểm soát của thiền sinh cũng như trong việc kiểm soát phiền não (kilesa) ngay khi chúng sinh khởi. Tầm quan trọng của nó đối với tiến bộ của thiền sinh trên Con đường chánh niệm và phát triển tâm linh nói chung là hiển nhiên.
Nyanaponika Thera
Ở đây, cần phải hiểu rõ rằng, thiền sinh không được suy nghĩ về các chuyển động của bụng, thay vào đó chỉ đơn thuần ghi nhận tiến trình vật lý mà thôi, nhận biết sự phồng, xẹp, lên, xuống đều đặn của bụng trong tất cả các giai đoạn chuyển động xảy ra. Thiền sinh cần cố gắng duy trì sự nhận biết đó mà không bị gián đoạn, hoặc không có sự gián đoạn nào không được ghi nhận, trong một quãng thời gian càng lâu càng tốt mà không bị căng thẳng. Tuệ giác sâu sắc mà pháp hành này nhắm đến sẽ tự nó phô bày trong tâm một cách tự động.
Nyanaponika Thera
“Chánh niệm không bị gián đoạn” là khi thiền sinh không bị cuốn theo những suy nghĩ vẩn vơ (tạp niệm) và nếu sự chú ý bị gián đoạn thì thiền sinh có thể ghi nhận được ngay lập tức, hoặc là ngay liền sau đó. Đối với các thiền sinh mới bắt đầu, tiêu chuẩn như trên được sử dụng để đánh giá xem liệu thiền sinh có đáp ứng được việc thực hành chánh niệm tổng thể hay không.
Nyanaponika Thera
Trong các hoạt động hàng ngày, sự chú ý không cần phải hướng vào tất cả các giai đoạn ngắn ngủi, chi tiết của chúng (như là đối với các đề mục thiền chính). Bởi vì nếu làm như vậy thì sự chậm lại của các hoạt động sẽ là quá mức. Chánh niệm theo dõi sát sao các hoạt động này và chỉ ghi nhận những chi tiết tự hiện diện mà không cần đến một nỗ lực nào, như vậy là vừa đủ.
Nyanaponika Thera
Ví dụ bên dưới có thể minh hoạ việc áp dụng chánh niệm một cách đúng đắn vào một loạt các hoạt động thường ngày. Vào buổi sáng, khi khởi lên ý muốn súc miệng, thiền sinh ý thức được ước muốn đó (nhận biết về suy nghĩ: “Vị ấy hay biết về tâm và các đối tượng của tâm”); Vị ấy nhìn thấy cái ly và bình nước cách đó không xa (nhận biết thuộc về thị giác); Vị ấy đi về phía đó (nhận biết về tư thế của thân); Vị ấy dừng lại ở đó (nhận biết về tư thế của thân); duỗi tay về phía bình nước (“hành động với sự tỉnh giác khi co và duỗi tay”); Vị ấy nắm lấy bình nước (nhận biết về sự xúc chạm),…
Nyanaponika Thera
Thiền sinh có thể không có được sự chú ý một cách chánh niệm đến tất cả mọi thứ hay thậm chí phần lớn các hoạt động và cảm giác trong ngày ngay lập tức được. Do đó, thiền sinh chỉ cần bắt đầu với việc chánh niệm về các tư thế và dần dần mở rộng phạm vi chánh niệm đến tất cả các hoạt động thường ngày như mặc quần áo, giặt giũ, ăn uống,… Sau vài ngày đầu tiên thực hành toàn thời gian, sự mở rộng này sẽ đến một cách tự nhiên, khi tâm trí đã trở nên định tĩnh hơn, quan sát đã trở nên sắc bén hơn và sự chú ý đã trở nên tỉnh giác hơn.
Nyanaponika Thera
Trong bất kỳ trường hợp nào đối với một thiền sinh mong muốn thực hành thiền tập đều đặn một cách nghiêm túc thì vị ấy cần phải tiết chế trong việc ăn uống. Không phải vô cớ mà Đức Phật đã khuyến cáo lặp đi lặp lại rằng những ai hết lòng với thiền tập cần phải tiết chế ăn uống. Kinh nghiệm trực tiếp sẽ khẳng định lợi ích của việc này đối với những ai quyết tâm đạt được các tiến bộ thực sự trong thiền tập mà không dừng lại ở các nỗ lực tầm thường.
Nyanaponika Thera
Đức Phật dạy rằng, bùn hình thành do nước. Nhưng khi tay bạn dính bùn, bạn rửa tay bằng nước. Tương tự như vậy, sự ô uế xảy ra trong tâm chính do những suy nghĩ của bạn. Và khi tâm bị vẩn đục, bạn rửa bằng một trạng thái tâm khác, bằng một tâm khác. Đó là sự lau rửa. Giữ tâm chánh niệm chính là lau rửa tâm. Chúng ta tắm rửa hàng ngày. Chúng ta ra mồ hôi mỗi ngày. Chúng ta nhận bụi bẩn vào người hàng ngày. Chúng ta không muốn ở trong trạng thái dơ bẩn đó. Nên chúng ta tắm rửa hàng ngày. Một hình thức tương tự, chúng ta cần tắm rửa tâm của chúng ta hàng ngày như thế. Nhưng bằng cách nào? Bằng cách quan sát những gì xảy ra trong tâm ta hàng ngày. Chú ý xem chúng ta nghĩ gì, chúng ta cảm thấy gì? Như vậy, bằng cách chú tâm đến tất cả các trạng thái tâm xảy ra trong tâm chúng ta, sự nhận biết đó sẽ làm thuần khiết tâm của chúng ta.
Sayadaw U Jotika
Khi hành thiền chánh niệm, thiền sinh không nên mong đợi “những trải nghiệm thần bí” hay những sự thỏa mãn cảm xúc rẻ tiền. Sau khi đã phát tâm tha thiết hướng tới ước nguyện cao thượng của mình, thiền sinh không nên đắm chìm vào suy nghĩ về thành tựu trong tương lai cũng như đắm chìm vào khao khát gặt hái những kết quả vội vàng.
Nyanaponika Thera
Ở giai đoạn đầu, thông qua các kinh nghiệm trực tiếp trên thân và tâm của thiền sinh, pháp hành này nhắm đến sự nhận thức một cách rõ ràng và sâu sắc rằng, có hai tiến trình độc lập của thân và tâm (nāmarūpa-pariccheda — phân biện danh sắc) đang xảy ra ngay trên cơ thể của vị ấy. Một nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về bản chất của hai tiến trình này cùng với một mức độ định tâm mạnh mẽ (đến mức an chỉ định hoặc cận định — upacāra-samādhi) sẽ dẫn đến một tuệ giác sâu sắc hơn về ba đặc tính phổ quát của vạn vật (Vô thường, Khổ và Vô ngã) và rồi dần dần dẫn đến việc tiến vào các giai đoạn thánh đạo (đạo-quả / magga-phala), tức là thành tựu sự giải thoát cuối cùng.
Nyanaponika Thera
Thiền sinh Phật giáo có thể bắt đầu thời khoá thiền bằng việc trì tụng các câu Quy y Tam bảo, ghi nhớ ý nghĩa thực sự của hành động này. Nó sẽ tạo dựng đức tin cho thiền sinh, vốn là một điều rất quan trọng cho sự tiến triển trong thiền: Đức tin vào Đức Phật (vào vị thầy cùng với sự hướng dẫn vô song của Ngài), đức tin vào năng lực giải thoát của Giáo pháp (Dhamma) của Ngài, và đặc biệt là đức tin vào pháp hành thiền chánh niệm. Đức tin này được khơi dậy do bởi thực tế đã có những vị chứng ngộ được Giáo pháp một cách trọn vẹn: Các vị tăng bảo (ariya-saṅgha), các Bậc đã thành tựu quả vị thánh cao nhất (arahat). Một sự thuyết phục như vậy sẽ khiến thiền sinh tràn ngập một niềm tin vào khả năng của chính mình trong niềm hỉ lạc trào dâng và sẽ chắp cánh cho những nỗ lực của vị ấy.
Nyanaponika Thera
“Lắng nghe tiếng lá rơi rơi,
Thơ sưu tầm
Bình an và tĩnh lặng tràn trong tâm,
Cớ sao mình rơi lệ?”
Khi đọc Phật Pháp và sách thiền, tôi phát hiện ra là khi bạn hành thiền, bạn trở nên thông minh hơn bởi vì những nhân tố phá hoại trong tâm bạn giảm bớt đi rất nhiều. Bạn tiết kiệm và giữ lại được rất nhiều năng lượng. Nếu không có thiền, bạn sẽ phung phí một số lớn năng lượng đến mức không thể suy nghĩ rõ ràng, mạch lạc. Vì vậy, mỗi khi muốn đọc sách, trước khi đọc, tôi ngồi thiền một lúc và làm cho tâm mình bình an, tĩnh lặng, để mình quên hết tất cả mọi việc đã diễn ra trước đó, làm sạch tâm mình và rồi tập trung hết sự chú ý của mình vào những gì mình đọc. Nó giống như một cái máy tính. Khi bạn muốn dùng một phần mềm nào đó, bạn đóng tất cả các phần mềm khác lại, giải phóng và làm trống bộ nhớ. Cũng như vậy, tôi làm tâm mình tĩnh lặng trở lại, đóng lại tất cả những suy nghĩ không cần thiết, và tập trung toàn bộ sự chú ý vào những gì mình đọc. Làm như vậy, tôi có thể hiểu được mọi thứ mình đọc một sách sâu sắc và sáng tạo, và tôi thấy cách đọc đó thực sự rất thích, rất hứng thú.
Sayadaw U Jotika
Này các Tỳ-khưu, có một thứ, nếu được trau dồi và thực hành thường xuyên sẽ dẫn đến tri giác sâu sắc về một sự cấp bách, … dẫn đến an lạc tối thượng, … dẫn đến chánh niệm và tỉnh giác, … dẫn đến thành tựu chánh kiến và tri kiến, … dẫn đến hạnh phúc ở đây và ngay tại thời điểm này, … dẫn đến chứng ngộ giải thoát bằng trí tuệ và thánh quả (arahatta-phala): đó là chánh niệm về thân.
Tăng Chi Bộ Kinh, 1, 21
Nếu không làm chủ được thân (bằng thiền tập; abhāvita – không hành thiền), thì không thể làm chủ được tâm. Nếu làm chủ được thân, sẽ làm chủ được tâm.
Trung Bộ Kinh, 36
Một vị thầy chân chính của pháp hành Tứ niệm xứ sẽ rất dè dặt, kín đáo lời nói trong mối quan hệ với học trò của mình. Vị thầy sẽ tránh tìm cách “gây ấn tượng” với học trò bằng cá tính của mình và khiến các học trò trở thành “tín đồ” của họ. Vị ấy cũng sẽ không dùng đến bất cứ một phương tiện nào có khả năng tạo nên các sự tự ám thị, các trạng thái xuất thần thôi miên hoặc các sự phấn khích đơn thuần về mặt cảm xúc. Những ai sử dụng các phương tiện như vậy cho chính bản thân mình hoặc cho người khác cần biết rằng, họ đang đi ngược lại với pháp hành chánh niệm.
Nyanaponika Thera
Sự điềm tĩnh, tự nương tựa vào chính mình cùng với một thái độ quan sát, thận trọng là những đặc điểm của pháp hành chánh niệm.
Nyanaponika Thera
Thuật ngữ “tỉnh giác” nên được hiểu là: Sự trong sáng và rõ ràng có được từ ghi nhận thuần tuý được đi kèm với một sự hiểu biết đầy đủ về mục đích và thực tế, ở bên trong cũng như ở bên ngoài, hay nói một cách khác, tỉnh giác là chánh kiến (ñāṇa) hoặc trí tuệ (paññā) được đặt trên nền tảng của chánh niệm (sati).
Nyanaponika Thera
Một trong những mục đích của việc thực hành Tứ niệm xứ là rèn luyện để tỉnh giác sẽ dần dần trở thành sức mạnh điều chỉnh mọi hoạt động của chúng ta, bao gồm thân, khẩu và ý. Nhiệm vụ của tỉnh giác là khiến cho các hoạt động thân, khẩu và ý trở nên có mục đích và hiệu quả, phù hợp với thực tế, phù hợp với lý tưởng của chúng ta cũng như thích hợp với mức độ hiểu biết cao nhất của chúng ta.
Nyanaponika Thera
Tuệ Minh Sát thuộc vào loại kiến thức chuyển hoá cuộc đời mà nhà tư tưởng người Pháp Guyeau đã nghĩ đến khi phát biểu rằng: “Nếu một người biết mà không hành động một cách phù hợp, thì người đó biết một cách không hoàn hảo”. Bản chất thực sự của Tuệ Minh Sát là nó tạo ra một sự buông bỏ ngày càng tăng cũng như sự tự do ngày càng tăng khỏi các tham ái, mà đỉnh điểm là đạt đến sự giải thoát cuối cùng của tâm khỏi tất cả những gì khiến nó bị trói buộc trong thế giới của khổ đau.
Nyanaponika Thera
Tuệ Minh Sát là sự nhận biết trực tiếp và xuyên thấu về ba đặc tính của mọi sự tồn tại bao gồm Vô thường, Khổ và Vô ngã. Đó không phải là sự đánh giá mang tính trí óc đơn thuần hay là những kiến thức mang tính khái niệm về những đặc tính này, mà đó là kinh nghiệm cá nhân không thể nghi ngờ và không thể lay chuyển được về Vô thường, Khổ và Vô ngã, là những kinh nghiệm có được và hoàn thiện dần thông qua việc nhiều lần đối mặt trực tiếp với các sự kiện ẩn chứa những sự thật đó.
Nyanaponika Thera
Một khoảng cách tách rời ở bên trong với mọi vật, với con người và với chính chúng ta, như có thể đạt được một cách tạm thời và cục bộ thông qua pháp hành ghi nhận thuần tuý, cho chúng ta thấy bằng kinh nghiệm của chính mình rằng: Có thể đạt đến một sự xả ly hoàn toàn cuối cùng cũng như có thể có được hạnh phúc phát sinh từ sự buông bỏ hoàn toàn đó. Nó mang lại cho chúng ta niềm tin rằng, sẽ có một ngày mà việc tạm thời bước sang một bên như vậy trở thành một sự bước ra hoàn toàn, thoát khỏi thế giới đau khổ này. Nó mang lại cho thiền sinh một loại nếm trước, hay ít ra là một ý tưởng, về sự tự do tối thượng, “sự thánh thiện giữa cuộc đời này” (diṭṭhadhamma-nibbāna), như được ám chỉ bằng câu nói: “Ở giữa thế gian, nhưng lại không thuộc về thế gian này”.
Nyanaponika Thera
Khi “bước lùi” khỏi sự vật và con người, thái độ của chúng ta đối với mọi thứ thậm chí còn trở nên thân thiện hơn, bởi vì khi đó sẽ không còn có những căng thẳng thường phát sinh từ sự can thiệp, từ tham muốn, từ sân giận hoặc các hình thức ngã mạn (tự so sánh) khác. Cuộc sống sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Thế giới bên trong cũng như bên ngoài của chúng ta sẽ trở nên rộng rãi hơn.
Nyanaponika Thera
Với kỹ năng đạt được thông qua việc rèn luyện pháp hành ghi nhận thuần tuý mà trong đó những thứ xấu xa và có hại được gọi tên ra ngay lập tức bằng cái tên thật của chúng, chúng ta đã đặt bước chân đầu tiên hướng tới việc loại bỏ chúng. Nếu thiền sinh hay biết một cách rõ ràng, ví dụ như trong pháp Quán tâm có lời chỉ dẫn rằng: “Tâm có tham”, hay trong pháp Quán pháp có lời chỉ dẫn rằng: “Nội tâm tôi có trạo hối”, thì thói quen đơn giản của việc đưa ra những tuyên bố rõ ràng như vậy sẽ tạo ra một sự phản kháng ở bên trong đối với những phẩm tính tiêu cực đó. Điều này sẽ lại khiến bản thân những sự phản kháng này ngày càng được cảm nhận nhiều hơn. Hình thức “ghi nhận” ngắn gọn và vô tư này thường chứng tỏ là hiệu quả hơn so với việc tập trung ý chí, cảm xúc hoặc lý trí khi đối trị với các phẩm tính tiêu cực. Bởi vì, thường thì sự tập trung ý chí, cảm xúc và lý trí lại kích động thêm các lực đối kháng trong tâm nhằm chống lại một cách cứng rắn hơn chính các nỗ lực đối trị với phiền não đó.
Nyanaponika Thera
Bằng cách hoàn toàn chú ý đến những suy nghĩ của mình khi chúng sinh khởi, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về điểm yếu và điểm mạnh của mình, tức là về những khiếm khuyết cũng như những năng lực mà chúng ta có được. Tự lừa dối bản thân về các khiếm khuyết của mình cũng như thiếu đi sự hiểu biết về những điểm mạnh của mình khiến cho việc tự phát triển bản thân trở nên bất khả thi.
Nyanaponika Thera
Chánh niệm giải phóng chúng ta khỏi xiềng xích của quá khứ, thứ mà chúng ta luôn dại dột cố gắng củng cố bằng cách nhìn lại một cách quá thường xuyên với đôi mắt của khao khát, của oán giận hoặc hối tiếc. Chánh niệm ngăn chặn chúng ta tự xiềng xích chính mình ngay trong thời điểm hiện tại, khi chúng ta mãi tưởng tượng về những nỗi sợ hãi và hy vọng nhằm đoán trước các sự kiện trong tương lai. Như vậy, Chánh niệm khôi phục lại cho chúng ta sự tự do, điều chỉ có thể tìm được ở giây phút của hiện tại.
Nyanaponika Thera
Khi đã quen với sự bình yên trong tâm hồn được ban tặng bởi thái độ ghi nhận thuần tuý, chúng ta sẽ ít bị cám dỗ lao vào hành động hoặc can thiệp vào công việc của người khác. Và khi mọi sự rắc rối cũng như xung đột được giảm bớt đi thì nỗ lực uốn nắn tâm sẽ gặp ít sự kháng cự hơn, sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Nyanaponika Thera
Bằng việc học cách để tạm dừng, để chậm lại và dừng hẳn thông qua pháp hành chánh niệm, tính mềm dẻo và khả năng tiếp nhận của tâm sẽ được phát triển đáng kể. Bởi vì những phản ứng có bản chất không như mong muốn sẽ không còn xảy ra một cách tự động, với tần suất như trước nữa. Khi ưu thế của những phản ứng tự động theo thói quen này, vốn thường không bị phản đối và nghi ngờ, bây giờ thường xuyên bị phản đối, thì chúng sẽ dần dần mất đi sức mạnh của mình.
Nyanaponika Thera
Chánh niệm làm chậm lại, hay thậm chí dừng lại luôn, tiến trình chuyển đổi từ suy nghĩ sang hành động, cho phép tâm có nhiều thời gian hơn để đi đến một quyết định chín chắn. Sự chậm lại như vậy có một tầm quan trọng sống còn trong hoàn cảnh những lời nói và hành động vô ích, có hại hoặc xấu ác có tính tự phát quá mạnh, tức là chúng xuất hiện như là những phản ứng tức thời đối với các sự kiện hoặc suy nghĩ, mà không cho phép “cái phanh hãm ở bên trong của trí tuệ”, không cho phép sự tự chủ cũng như lẽ phải thông thường có cơ hội hoạt động.
Nyanaponika Thera
Thường thì chỉ cần một khoảnh khắc đơn lẻ của chánh niệm hoặc suy nghĩ trí tuệ cũng đã có thể ngăn chặn được một chuỗi những đau khổ hoặc tội lỗi sâu rộng. Bằng cách tạm dừng trước khi hành động, cùng với thái độ thuần tuý ghi nhận theo thói quen, chúng ta sẽ có thể nắm lấy được khoảnh khắc mang tính quyết định nhưng ngắn ngủi, khi tâm trí chưa quyết định một đường hướng hành động hay thái độ rõ ràng nào, nhưng vẫn sẵn sàng cởi mở đón nhận các hướng dẫn khéo léo.
Nyanaponika Thera
Phần lớn đau khổ do con người gây ra trên thế giới không bắt nguồn từ các cố ý xấu xa mà là bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết (si), thiếu chánh niệm, thiếu suy nghĩ, hấp tấp và thiếu tự chủ.
Nyanaponika Thera
Chánh niệm sẽ khiến chúng ta nhận ra rằng Vô thường (sự sinh diệt liên tục) luôn ở bên chúng ta; rằng tần suất xảy ra những sự sinh diệt liên tục đó trong một phần rất nhỏ của giây cũng vượt quá tầm hiểu biết của chúng ta.
Nyanaponika Thera
Lần đầu tiên khi có thể kinh nghiệm trực tiếp được sự sinh diệt đơn lẻ liên tục này, nó sẽ là một cú đập mạnh không chỉ lên tâm trí mà còn chạm đến toàn bộ con người của chúng ta — chúng ta đang thực sự sống trong loại thế giới nào đây nhỉ? Đối mặt với Vô thường, như được kinh nghiệm trực tiếp một cách sống động trên cơ thể và ở trong tâm của mình, giờ đây chúng ta mới bắt đầu “nhìn mọi thứ như chúng thực sự là”, đặc biệt là “những gì xảy ra ở trong tâm”.
Nyanaponika Thera
Chúng ta không thể hiểu được tâm nếu không nhận ra rằng, tâm là một dòng chảy liên tục, không ngừng nghỉ. Và chúng ta cũng không thể hiểu được tâm nếu không duy trì sự thật đó (tâm là một dòng chảy liên tục, không ngừng nghỉ) trong mọi nghiên cứu của chúng ta nhằm tìm hiểu về tâm.
Nyanaponika Thera
Khi việc thực hành chánh niệm đã mang lại một kinh nghiệm sâu rộng nhất định trong việc xử lý các sự kiện ở trong tâm mình, thiền sinh sẽ ngay lập tức chắc chắn được một điều rằng tâm mình không là gì khác hơn ngoài chức năng nhận thức của nó.
Nyanaponika Thera
Chánh niệm rất hữu ích cho việc tìm hiểu kiến thức về tâm và thông qua đó cũng mang lại kiến thức về mọi thứ. Nó phù hợp với quy trình và thái độ của một nhà khoa học, một học giả chân chính bao gồm: Định nghĩa rõ ràng về chủ đề và thuật ngữ; duy trì khả năng tiếp nhận mà không có định kiến đối với các hướng dẫn được đưa ra từ chính sự vật và hiện tượng đang nghiên cứu; loại trừ, hoặc ít nhất là giảm bớt sự đánh giá mang yếu tố chủ quan; trì hoãn đánh giá cho đến khi việc kiểm tra cẩn thận các sự kiện và dữ liệu đã được thực hiện.
Nyanaponika Thera

Chúng ta không kết nối được với thân và tâm của mình trong hầu hết mọi lúc. Chúng ta đang ở đâu đó ngoài kia. Một số người sử dụng cụm từ “say thuốc”, “mất ý thức” để nói về hiện tượng này. Hầu như trong mọi lúc, chúng ta cứ mãi lơ đãng, mơ màng, suy nghĩ, suy nghĩ, suy nghĩ, và suy nghĩ về một điều gì đó.
Sayadaw U Jotika
Những khi tức giận, bạn cần chú ý hoặc tự nhắc nhở bản thân mình rằng: ‘Giận dữ, sân giận, tức giận. Tôi đang sân giận. Đây là sân giận.’ Nếu bạn chú ý như vậy thì cơn giận của bạn sẽ ngày càng giảm đi. Bạn đang kiểm soát cơn giận của mình. Bạn không nổ tung lên. Bạn không phản ứng. Và sau khi định tĩnh trở lại, bạn sẽ thấy được đâu là điều đúng đắn nên làm, đâu là điều tốt nhất bạn có thể làm.
Sayadaw U Jotika
Không hiểu biết là bóng tối. Hiểu biết là ánh sáng. Bất cứ khi nào hiểu biết được một điều gì đó, tâm trí của bạn sẽ trở nên sáng rỡ, bạn ngộ ra được một điều gì đó. Và bóng tối được xua tan. Đó là niềm vui của sự hiểu biết. Bất cứ khi nào biết được sự thật về một điều gì đó, nó sẽ khiến cho tâm chúng ta trở nên sáng suốt và nhẹ nhàng. Nó cũng mang lại rất nhiều niềm vui.
Sayadaw U Jotika
“Sức khỏe không phải là sự vắng mặt của bệnh tật.” Đây là một ý tưởng rất thú vị. Bởi vì, nếu chúng ta định nghĩa sức khoẻ như là sự vắng mặt của bệnh tật thì tôi muốn hỏi các bác sĩ rằng, liệu họ đã gặp được người nào có một sức khỏe hoàn hảo, hoàn toàn không có bệnh tật chưa? Đức Phật đã dạy rằng: “Thậm chí, kể cả trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, nếu một người tuyên bố rằng: ‘Tôi khỏe mạnh’, người đó không thể là ai khác ngoài một kẻ ngu
Sayadaw U Jotika
“Hãy thực hành theo những lời dạy trong bản Kinh Đại Niệm Xứ này, để bạn có thể hiểu tại sao bản kinh này lại được công nhận là bản kinh quan trọng nhất mà Đức Phật đã dạy.” Nếu bạn thực sự nghiêm túc với thiền tập, nếu bạn thực sự nghiêm túc trong việc cải thiện chất lượng tâm trí và chất lượng cuộc sống của mình về mọi mặt, bạn cần phải nghiên cứu và thực hành bản kinh này. Rồi dần dần việc hành thiền của bạn trở nên trọn vẹn cho đến mức cuộc sống của bạn chính là việc hành thiền.
Sayadaw U Jotika
Mục đích hành thiền của bạn là gì? Mỗi người đến với thiền có những mục đích, mong cầu khác nhau. Người Mỹ thì thường hành thiền để có thể làm việc tốt hơn, sáng tạo hơn, năng suất hơn, hiệu quả hơn. Điều đó cũng tốt. Tuy nhiên, mọi thứ đều thay đổi. Sau khi trải nghiệm một cách sâu sắc và đầy đủ ở mức độ, nhu cầu tâm linh hiện tại, sự không thoả mãn sẽ chuyển bạn đến nhu cầu ở tầng mức tâm linh cao hơn. Và bạn sẽ tiếp tục làm việc chăm chỉ để thoả mãn nhu cầu tâm linh ở cấp độ cao hơn này. Bạn sẽ ngày càng trưởng thành hơn về mặt tâm linh với những sự thay đổi đó. Vấn đề mấu chốt là cần phải hành thiền, phải hành thiền đều đặn và liên tục. Tự bản thân việc hành thiền sẽ dẫn dắt bạn tiến xa hơn, đúng đắn hơn trên con đường trưởng thành và phát triển tâm linh của mình.
Một vị thiền sư
Bất cứ khi nào có một tâm bất thiện ở bên trong mình, bạn hãy quán xét cái tâm đó. Nó không phải là bạn của bạn. Cái tâm bất thiện đó không phải là bạn của bạn. Nó là kẻ thù của bạn. Và bất cứ khi nào có một tâm thiện, một tâm tốt đẹp ở bên trong mình, bạn hãy quán sát cái tâm đó và xác nhận rằng, đây là bạn của bạn. Khi bạn biến những tâm thiện tốt đẹp đó trở thành bạn của mình, thì những tâm thiện đó, những suy nghĩ đó sẽ thúc đẩy bạn làm ngày càng nhiều hơn những điều tốt đẹp. Bạn ngày càng trở thành một con người tốt đẹp hơn. Bạn thực sự học hỏi và trưởng thành.
Sayadaw U Jotika
Hành động đơn giản của sự hiện diện một cách trọn vẹn với người khác thực sự là một hành động của tình yêu thương.
Sayadaw U Jotika
Cuộc đời là một chuỗi những bài kiểm tra. Khó khăn chính là những bài kiểm tra. Chúng ta đang ở trong một trường đời. Toàn bộ cuộc đời chúng ta là một trường học. Từ khi mới lọt lòng sinh ra cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, chúng ta đều học ở dưới mái trường này.
Sayadaw U Jotika
Khi hành thiền chánh niệm trong môi trường bình thường mà thiền sinh đang sinh sống và làm việc, vị ấy nên thực hiện một cách kín đáo nhất có thể, do bởi các lý do về mặt tâm linh cũng như do bởi thực tế trong cuộc sống. Việc thực hành chánh niệm và tỉnh giác cần thể hiện ở kết quả của nó, chứ không phải ở bất kỳ một hành vi bên ngoài nào mà có thể trông bất thường đối với những người xung quanh. Thiền sinh có thể lựa chọn các bài thực hành thường ngày của mình một cách phù hợp, và dành các bài tập còn lại trong những dịp cho phép có được sự riêng tư của bản thân.
Nyanaponika Thera
Khi học trò đã sẵn sàng thì vị thầy sẽ xuất hiện.
Sayadaw U Jotika
Chúng ta đang tìm kiếm một điều gì đó để làm cho chúng ta thoả mãn. Tuy nhiên, chúng ta lại chẳng biết đó là điều gì. Nhưng người đàn ông này đã tìm thấy. Anh ấy bảo rằng, điều đó rất thoả mãn và đó là những gì anh ấy muốn. Anh ấy đã tìm thấy được hạnh phúc và định tĩnh ở bên trong tâm mình, không phải ở ngoài kia. Nền văn hoá thiên về vật chất đang tẩy não mọi người, khiến cho mọi người tin rằng bạn có thể tìm thấy hạnh phúc nếu bạn có thể mua được nhiều và nhiều hơn nữa những món đồ mắc tiền. Đó là một cái bẫy. Chúng ta bị mắc kẹt vào trong cái bẫy này và chúng ta tin vào đó. Mặc dù bị thất vọng hết lần này đến lần khác, rất nhiều lần, nhưng chúng ta vẫn muốn tin vào điều đó về một hạnh phúc ở ngoài kia.
Sayadaw U Jotika
Khi chúng ta hạnh phúc, chỉ bởi do hạnh phúc đó (trạng thái tâm hạnh phúc đó) mà chúng ta đang làm một điều tốt đẹp cho mọi người. Chỉ cần trở nên hạnh phúc là chúng ta đang đóng góp trực tiếp cho thế giới này. Do đó, chẳng những chúng ta có quyền hạnh phúc, mà chúng ta còn có trách nhiệm trở nên hạnh phúc.
Sayadaw U Jotika
Chánh niệm, mặc dù bản chất có vẻ như là thụ động, song thực ra lại là một động lực kích hoạt. Nó làm cho tâm trở nên tỉnh giác, và tỉnh giác là một điều không thể thiếu trong tất cả mọi hành động có chủ đích.
Nyanaponika Thera
Một giờ bất mãn cao độ có thể làm bạn mất năng lượng hơn cả 12 giờ làm việc nặng nhọc.
Sayadaw U Jotika
Như vậy, Đức Phật dạy rằng, không gần gũi với kẻ ngu. Kể từ khi tôi học được điều đó, tôi đã cố gắng tốt nhất có thể để không gần gũi với kẻ ngu. Nhưng điều đó không hề dễ dàng. Như một vài người bạn của tôi đã nói, nếu chúng ta không gần gũi với kẻ ngu, chúng ta chẳng có ai để mà gần gũi cả. Vậy bạn sẽ làm gì khi bạn gặp hoặc có liên hệ với một kẻ ngu? Một vài người, những người lớn tuổi khuyên rằng, khi không thể tránh được kẻ ngu, đừng nghe theo các lời khuyên của họ. Trong tiếng Miến Điện, chúng tôi có một câu nói rất hay: ‘Bạn gần gũi với kẻ ngu trong cuộc sống, nhưng trong tâm trí bạn không gần gũi với kẻ ngu.’ Đó là một điều quan trọng cần ghi nhớ.
Sayadaw U Jotika
Một ngày nọ, sau khi ngồi thiền, đọc, và hành thiền khoảng tầm mười phút và sau đó rà quét toàn bộ cơ thể từ đầu đến chân xuống đến ngón chân vào khoảng mười đến mười lăm phút, tôi đã cảm thấy rất định tĩnh và bình an, rất nhẹ nhàng trong cả thân và tâm. Toàn bộ cơ thể rất nhẹ nhàng và bình yên. Tôi đã hiểu ra được một điều vào thời khắc đó. Và đó là thời khắc rất quan trọng trong cuộc đời của tôi. Tôi đã cảm thấy quá đỗi bình yên, điều mà tôi chưa bao giờ trải nghiệm được trước đây. Tôi chợt hiểu ra rằng, bao nhiêu năm, tôi đã sống nhưng chưa bao giờ thật sự được hạnh phúc và bình an.
Sayadaw U Jotika
Dù đó là cái đau trong thân hay nỗi khổ trong tâm, chúng ta cũng phải học cách tách mình ra và quan sát nó một cách khách quan. Điều này rất quan trọng, bởi vì một khi bạn đã học được cách làm điều đó, thì hầu hết những vấn đề tâm lý của bạn sẽ biến mất. Khi bạn không tự đồng hoá mình với cái đau, điều đó sẽ khiến cho bạn dễ dàng đối phó và làm việc với cái đau ấy hơn.
Sayadaw U Jotika
Chỉ khi bạn sẵn lòng nhìn tâm mình mà không có mặc cảm tội lỗi, không muốn làm bất cứ điều gì đối với nó, chỉ khi đó bạn mới có thể thấy nó một cách rõ ràng. Khi đó nó sẽ mất đi quyền lực đối với bạn bởi vì nó đã bị lộ mặt – nó bị bạn thấy rõ.
Sayadaw U Jotika
Niệm chết, suy nghĩ về cái chết thoạt đầu nghe có vẻ tiêu cực. Nhưng càng nghiền ngẫm về nó thì chúng ta mới thấy rằng nó không phải như vậy. Thay vào đó, nó gieo vào tâm chúng ta, vào cuộc sống chúng ta một sự khẩn cấp, một sự tỉnh táo để chúng ta sống được ý nghĩa và trọn vẹn hơn.
Việt Hùng
Mỗi người chúng ta đều có một điều gì đó dâng tặng đến thế giới này. Chúng ta có thể, luôn có thể làm điều đó. Không quan trọng là lớn hay nhỏ, mỗi người trong chúng ta đều có thể dâng tặng một điều gì đó đến thế giới này. Do đó, thay vì hỏi rằng: “Thế giới có thể cho tôi những gì?” thì hãy tự hỏi bản thân rằng: “Tôi có thể dâng tặng điều gì cho thế giới này? Tôi có thể cho đi điều gì? Làm cách nào tôi có thể biến thế giới này trở thành một nơi chốn tốt đẹp hơn?
Sayadaw U Jotika
Tất cả chúng ta hãy làm bất cứ điều gì mà chúng ta có thể làm được, hãy đóng góp. Bằng cách đóng góp và làm việc cùng với nhau, bạn học hỏi và phát triển. Bạn học cách làm việc với mọi người. Bạn cũng học được từ những khó khăn xảy ra khi làm việc với mọi người. Và đó là các bài học rất quan trọng. Bằng cách trải nghiệm và học hỏi như vậy, bạn ngày càng trở nên trưởng thành và lớn khôn hơn. Đó là cách duy nhất để trở thành một người trưởng thành… Nếu mọi việc đều dễ dàng thì bạn sẽ không trưởng thành lên được.
Sayadaw U Jotika
Nụ cười của sự đảm bảo này trên khuôn mặt của Đức Phật dạy rằng: “Con cũng có thể thành đạt đạo quả! Những cánh cửa dẫn đến bất tử đang rộng mở!”. Ngay sau khi Đức Phật bước qua những cánh cửa Giác ngộ này, Ngài đã tuyên bố rằng: “Cũng giống như ta, người đã đạt đến sự tận diệt của nhiễm ô, các vị thánh sẽ chiến thắng.”
Nyanaponika Thera
Chính chúng ta cho cuộc đời ý nghĩa của nó. Đừng đi hỏi người khác về ý nghĩa của cuộc đời. Hãy đem đến cho tất cả mọi thứ những ý nghĩa của chính mình
Sayadaw U Jotika
Vô thường (anicca) không có nghĩa là thay đổi và tồn tại dưới một dạng khác. Vô thường nghĩa là diệt mất, không còn ở đó nữa; là sự không tồn tại của hiện tượng. Hiện tượng sanh diệt và không còn tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào.
Sayadaw U Jotika
Có quá nhiều thứ xảy ra trong cuộc đời của chúng ta. Đôi khi những việc tốt đẹp xảy ra. Những lúc khác thì các việc tồi tệ xảy ra. Khi những điều tốt đẹp xảy ra trong cuộc đời của mình, chúng ta cảm thấy hạnh phúc. Khi những thứ tồi tệ xảy ra, chúng ta cảm thấy đau khổ. Như vậy là hạnh phúc của chúng ta lại phụ thuộc vào các điều kiện bên ngoài. Nếu vậy thì nó rất không chắc chắn. Nhưng nếu bạn học Phật pháp và hành thiền, bạn sẽ nhận ra rằng hạnh phúc của mình ngày càng ít phụ thuộc vào các điều kiện ở bên ngoài hơn. Khi đó, bạn thấy bản thân mình hạnh phúc mà không có một lý do nào cả.
Sayadaw U Jotika


Gửi phản hồi